top of page

Chuyển Đổi Số Trong Nông Nghiệp Ở Việt Nam

Updated: Mar 29, 2022

Trong những năm gần đây, tốc độ gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa, và biến đổi khí hậu làm cho ngành nông nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn và rủi ro, đòi hỏi nông nghiệp phải tái cơ cấu để thích ứng. Cùng với sự phát triển công nghệ và chiến lược chuyển đổi số quốc gia, chuyển đổi số và áp dụng công nghệ cao được kỳ vọng sẽ giúp nông nghiệp Việt Nam gia tăng năng suất sản xuất, thích ứng biến đổi khí hậu, đảm bảo thu nhập cho người nông dân, giảm lãng phí thực phẩm.Tuy nhiên, các chính sách và hoạt động chuyển đổi số trong nông nghiệp tại Việt Nam hiện còn mang tính cục bộ địa phương và thiếu tính tổng thể trên phạm vi quốc gia. Dựa trên những tồn tại đó, bài viết này nhằm đánh giá thực trạng chuyển đổi số nông nghiệp tại Việt Nam, từ đó nêu lên những gợi ý chính sách nhằm thúc đẩy quá trình này.



Thực trạng chuyển đổi số trong nông nghiệp tại Việt Nam

Thời gian qua, nhiều cơ chế, chính sách đặc thù đã được ban hành nhằm nâng cao năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trong đó, các chính sách về tín dụng đã tập trung gia tăng hạn mức tín dụng và giảm mức lãi suất đối với lĩnh vực nông nghiệp sạch và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Trong đó, Nghị định số 116/2018/NĐ-CP cho phép doanh nghiệp được vay tối đa bằng 70%-80% giá trị dự án nông nghiệp công nghệ cao mà không cần tài sản đảm bảo, và nhiều ưu đãi về cắt giảm thủ tục hành chính khác.


Việc ứng dụng nông nghiệp thông minh ở Việt Nam đang ở giai đoạn đầu nên có nhiều hạn chế như (1) thiếu một hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học đồng bộ; (2) thiếu vốn đầu tư; (3) quy mô sản xuất nông nghiệp nhỏ, manh mún, phân tán cùng với chi phí ban đầu cao; (4) công tác quản lý chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm còn lỏng lẻo và hệ thống truy xuất nguồn gốc còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập; (5) chưa có một thị trường tiêu thụ lớn, ổn định; (6) nhiều doanh nghiệp vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu về công nghệ, chủng loại máy móc cũng như chất lượng; (7) thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao; (8) biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp.


Gợi ý chính sách cho Việt Nam

Vốn

Cần cắt giảm thủ tục và quy trình đăng ký đối với Quyết định 19/2018/QĐ-TTg và làm rõ các tiêu chí công nhận dự án nông nghiệp công nghệ cao để các tổ chức tín dụng có căn cứ cho vay. Cần thiết lập một cơ quan chuyên trách có thẩm quyền xác định dự án nông nghiệp công nghệ cao thay vì phải làm việc cùng lúc với nhiều sở ban ngành khác nhau.


Bên cạnh đó, ngân hàng cần có phương án chi tiết để công nhận các tài sản trên đất nông nghiệp như nhà kính, nhà lưới, và ao nuôi là tài sản thế chấp để vay vốn. Các ngân hàng thương mại cần nới rộng thời hạn trả nợ do nông nghiệp công nghệ cao khi gặp thiên tai và thời tiết bất lợi.


Các dự án nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam có thể tiết kiệm chi phí thiết bị bằng cách tận dụng các thành phần thiết bị ở địa phương để tự chế tạo nên các thiết bị với giá cả phải chăng hơn, thay vì nhập khẩu thiết bị trực tiếp từ quốc tế.


Nhà nước cần tập trung giải bài toán về tập trung và tích tụ ruộng đất cũng như nâng cao nhận thức và trình độ lao động của người nông dân để thu hút vốn đầu tư.

Đất đai

Nhà nước cần giảm các loại thuế phí (ví dụ: thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính, lệ phí thẩm định) và tăng hạn mức nhận chuyển nhượng đối với đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần đứng ra làm đầu mối trung gian để thực hiện giao dịch nhằm tăng niềm tin của người nông dân đối với các doanh nghiệp ở ngoài địa phương.


Ngoài ra, cần đề cao vai trò của các hợp tác xã nông nghiệp trong việc tập hợp các hộ sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ. Cụ thể, các thành viên của hợp tác xã sẽ giao đất cho ban quản lý hợp tác xã tùy ý sử dụng. Ban quản lý hợp tác xã có trách nhiệm liên kết với các công ty tư n