Theo TS Nguyễn Văn Kiền, nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam có cơ hội lớn để thâm nhập vào thị trường nông sản hữu cơ ở xứ sở chuột túi - Australia, đặc biệt là khi hai nước đang tiến hành thúc đẩy quan hệ kinh tế và giao thương. Ông Tim Marshall, Tổng Giám đốc công ty TM Organics và Chủ tịch Cơ quan chứng nhận hữu cơ thuộc Hiệp hội nông nghiệp bền vững quốc gia Australia (National Association of Sustainable Agriculture Australia  - NASAA) phân tích rằng thị trường tiêu thụ nông sản hữu cơ tại Australia không ngừng tăng trưởng (đạt 2,5 tỷ đô la Australia (AUD) vào năm 2019) nhưng sản xuất nội địa chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Với lợi thế của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc chuyển đổi sang hướng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, ngang tầm với các nền nông nghiệp trong khu vực và trên thế giới. TS Nguyễn Văn Kiền cho biết, biết cách tận dụng cơ hội trên, khả năng nông sản hữu cơ từ Việt Nam bước vào thị trường này khá cao, nhất là các sản phẩm chế biến như các loại nước chấm, mứt, quả đóng hộp, rau khô hay đông lạnh, hạt điều được kiểm soát nhiệt độ kho trữ, gạo và các sản phẩm sau gạo như bún, phở, thủy hải sản, nước cốt dừa, đường thốt nốt, café, dược liệu, gia vị (tiêu, quế hồi) … Tuy nhiên, gia nhập một thị trường mới như Australia là điều không dễ dàng khi các sản phẩm thô phải đáp ứng các yêu cầu rất cao về an ninh sinh học đối với nông sản nhập khẩu. Dự án thúc đẩy phát triển công nghệ nông nghiệp hữu cơ, chứng thực và thương mại nông sản hữu cơ giữa Việt Nam và Australia của công ty Mekong Organics tập trung vào hai nội dung chính trong thời gian từ tháng 7/2021 đến tháng 5/2022. Nội dung thứ nhất là tổ chức khóa đào tạo cho 200 học viên là doanh nghiệp, nông trại, hợp tác xã, cán bộ quản lý ngành nông nghiệp, hiệp hội, nhà nông, sinh viên, giảng viên về sản xuất, chế biến, và thương mại nông sản hữu cơ dựa trên kinh nghiệm từ Australia. Nội dung thứ hai của dự án là tổ chức diễn đàn kết nối thương mại Australia-Việt Nam để nhà nông và doanh nghiệp giữa hai quốc gia có cơ hội giới thiệu về sản phẩm hữu cơ. Diễn đàn sẽ là địa chỉ duy nhất về thương mại nông sản hữu cơ giữa hai nước được phát triển trên nền website của công ty Mekong Organics. Ngoài ra, dự án cũng sẽ tổ chức hội thảo trực tuyến để doanh nghiệp và nhà nông Việt Nam và Australia giao lưu, giới thiệu thành quả nghiên cứu khoa học, công nghệ trong sản xuất, chứng nhận, thương mại nông sản hữu cơ, và để đẩy mạnh giao thương. TS Nguyễn Văn Kiền giữ chức vụ Giám đốc công ty Mekong Organics có trụ sở tại thủ đô Canberra, Australia. Đây là đơn vị vừa được chính phủ Úc chọn thực hiện Dự án thúc đẩy phát triển công nghệ nông nghiệp hữu cơ, chứng thực và thương mại nông sản hữu cơ giữa Việt Nam và Australia trong khuôn khổ Chương trình thí điểm tài trợ Cam kết Tăng cường kinh tế Australia-Việt Nam (AVEG). Thầy là giảng viên danh dự tại Đại học Quốc gia Australia, có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tại Đại học An Giang, và đồng thời cũng là nghiên cứu viên cấp cao tại Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe. Nguồn: Nông sản hữu cơ của Việt Nam có tiềm năng lớn tại Australia (bnews.vn)

Nông sản hữu cơ của Việt Nam có tiềm năng lớn tại Australia

Jul 9, 2021

3

mins read

Theo TS Nguyễn Văn Kiền, nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam có cơ hội lớn để thâm nhập vào thị trường nông sản hữu cơ ở xứ sở chuột túi -...

New research article by Dr. Võ Tất Thắng, Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI)Director in Economic Analysis and Policy, Vol. 70, June 2021. Thang T. Vo, Truong Thiet Ha, "Decomposition of gender bias in enterprise employment: Insights from Vietnam", Economic Analysis and Policy, Volume 70, 2021, pp. 182-194, ISSN: 0313-5926, DOI: 10.1016/j.eap.2021.02.007. Abstract While  female participation in the labor market is crucial for women’s  empowerment, studies focusing on gender bias in enterprise employment  are limited. The present study investigates the determinants of female  participation in Vietnamese enterprises from 2011 to 2015. The Feasible  Generalized Least Squares (FGLS) method was used to analyze data from a  survey of Vietnamese micro-, small-, and medium-sized enterprises. The  study also conducted the Oaxaca–Blinder decomposition to assess the  degree of discriminatory treatment existing in firms in the  male-intensive sector compared with that in the female-intensive sector.  The results indicate that export activity, human capital investment,  industry characteristics, length of operation, firm size, gender, and  business owners’ social capital have positive effects on female  participation in enterprises. Contrarily, labor remuneration and the  level of capital per worker show a negative correlation. Gender  discrimination explains 26.11% of the number of female employees and  87.78% of the difference in female workers’ proportion. Conclusions and policy implications The results indicate that gender discrimination in job opportunities still exists in Vietnamese firms. When comparing firms in the male-intensive sector and those in the female-intensive sector, discrimination explains 26.11% of the number of female employees and 87.78% of the difference in the proportion of female workers. Export activities, human capital investment, industry characteristics, length of operation, firm size, gender and business owners’s social capital encourage both the number and proportion of female workers in firms. Contrarily, the labor remuneration regime and level of capital per worker show a negative correlation. The results suggest that future public policies should focus on supporting a firm’s export activities, expanding export markets, and improving the efficiency of trade associations to encourage female participation in the labor market. In addition, policies that help firms boost their business would be also necessary for the benefit of female workers. Simultaneously, the results support policies in challenging gender stereotypes through various gender awareness campaigns and training for employers on modern strategies of human resource development. Policies motivating female entrepreneurship could raise female employment; and therefore, the provision of finance and training for micro-businesses owned and operated by women are crucial.

Decomposition of gender bias in enterprise employment: Insights from Vietnam

Mar 4, 2021

2

mins read

New research article by Dr. Võ Tất Thắng, Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI)Director in Economic Analysis and...

New research article by Dr. Nguyễn Phúc Cảnh, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) in Land Use Policy, Vol. 109, 2021. Canh Phuc Nguyen, Thanh Dinh Su. "Alleviating energy poverty for forest conservation: It seems to work, but what are we missing?". Land Use Policy, Volume 109, 2021, 105625. ISSN: 0264-8377 DOI: https://doi.org/10.1016/j.landusepol.2021.105625 Highlights •The impacts of energy poverty’s alleviation on forest area and forest rents. •Energy poverty’s alleviation and forest areas have mutual causalities. •Energy poverty’s alleviation has uni-direction causality on forest rents. •No evidence of the Environmental Kuznets Curve for deforestation. •Notably, the energy poverty’s alleviation has U-shaped effects on deforestation. Abstract The literature mostly agrees that alleviating energy poverty can protect forests. This study nevertheless shows a conundrum, in that the policy of energy poverty alleviation may cause deforestation and forest rents after a threshold. Specifically, the impacts on forest area and forest rents of four proxies of energy poverty (i.e. access to clean fuels and technologies for cooking, access to electricity, and electricity consumption) are analysed using a global sample of 74 developing countries from 2002 to 2016. Several estimates for panel data are applied, providing robust and consistent findings. Energy poverty alleviation and forest area appear to have mutual causalities, while energy poverty alleviation appears to have unidirectional causality on forest rents. There is no evidence of the Environmental Kuznets Curve for deforestation, but economic development appears to increase forest area and reduce forest rents. Notably, the analysis shows that the alleviation of energy poverty appears to have inverted U-shaped effects on forest area, and U-shaped effects on forest rents. The results mean that energy poverty alleviation seems to cause a reduction in deforestation and forest rents until a threshold, and from that tipping point, energy prosperity likely increases deforestation and forest rents in developing countries. The findings are discussed along with important policy implications.

Alleviating energy poverty for forest conservation: It seems to work, but what are we missing?

Jun 28, 2021

2

mins read

New research article by Dr. Nguyễn Phúc Cảnh, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) in...

Trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (World Happiness Report) hàng năm, New Zealand liên tục nằm trong top 10 quốc gia hạnh phúc nhất trên thế giới. Giáo sư Robert MacCulloch, một chuyên gia về kinh tế học hạnh phúc từ trường Đại học Auckland, cho rằng người New Zealand khá hài lòng với cuộc sống của họ, đó là một điều tốt. Tuy nhiên, người New Zealand lẽ ra có thể làm tốt hơn bằng những cải cách đột phá, thay vì cứ chọn những cách làm an toàn và “tự mãn” về xếp hạng hạnh phúc của mình. Sự tự mãn này làm cho người New Zealand không có động lực để thay đổi, và điều này, theo MacCulloch, có thể sẽ dẫn đến những viễn cảnh không mấy tốt đẹp cho New Zealand trong tương lai. Đại dịch COVID-19 làm cho người ta suy nghĩ nhiều hơn về hạnh phúc. Ông cho rằng New Zealand gần như đã duy trì một cuộc sống bình thường, một ngoại lệ đặc biệt trong bối cảnh hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang vật lộn với COVID-19. Tuy nhiên, hạnh phúc này của New Zealand cũng tương đối mong manh. Năm 2019, cứ mỗi đô la Chính phủ New Zealand chi, thì 71 cents là dành cho giáo dục, y tế và phúc lợi. MacCulloch cho rằng chính COVID-19 đã tạo ra động lực cải cách cho New Zealand. Đó là điều cần thiết nếu nước này muốn duy trì mức độ hạnh phúc hiện có, và hạnh phúc đó phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống phúc lợi và y tế. Ngân sách Hạnh phúc (Well-being Budget) MacCulloch ủng hộ Ngân sách Hạnh phúc do Chính phủ New Zealand đưa ra, song, ông cũng quan ngại về tính thực tiễn của Ngân sách này. Ông cho rằng nó không rõ ràng. Ngân sách Hạnh phúc dựa trên một bảng đánh giá phức tạp với hơn 50 chỉ số. Theo MacCulloch, quá nhiều chỉ số sẽ tạo ra sự không nhất quán, nó trở thành điểm yếu của cách đo lường này. Ông cho rằng chỉ nên dùng một hoặc hai chỉ số đơn giản, ví dụ, đo lường mức độ hạnh phúc bằng câu hỏi: “Đánh giá mức độ hài lòng của bạn đối với cuộc sống” với các thang đo “rất hài lòng, hài lòng, không hài lòng lắm, rất không hài lòng”. Để trả lời câu hỏi như trên, người được hỏi không cần phải có kiến thức về kinh tế, mà chỉ cần để ý một chút về cảm giác của mình. Bằng cách kết hợp dữ liệu thu được từ câu hỏi trên với các yếu tố vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, bất bình đẳng, thay đổi trong thu nhập, tỷ lệ tội phạm, yếu tố môi trường, MacCulloch và các nhà kinh tế học khác đã có thể định giá hạnh phúc cho hầu như mọi thứ. Ví dụ, chúng ta có thể đánh giá tác động của môi trường lên hạnh phúc con người như sau. Sự gia tăng ô nhiễm không khí đo bằng lượng tăng khí thải SO2 ở mức 1 phần triệu hạt trên mét khối không khí (1µ/m3) khiến mọi người cảm thấy tồi tệ hơn là khi thu nhập hộ gia đình của họ giảm 1,5%. Phí tổn tinh thần của suy thoái kinh tế Trong các bài nghiên cứu tốt nhất của mình, MacCulloch đánh giá tác động của suy thoái kinh tế và thất nghiệp lên mức độ hạnh phúc của người Mỹ và Châu Âu. Ông phát hiện ra rằng suy thoái kinh tế không chỉ làm người ta tổn thất về tài chính, mà còn cảm thấy căng thẳng, bồn chồn, và dần trở nên trầm cảm. Điều này tạo ra phí tổn tinh thần vô cùng lớn, nó kéo dài thậm chí đến cả sau suy thoái. Cụ thể, một người bị mất việc do khủng hoảng kinh tế sẽ bị giảm mức độ hạnh phúc nhiều hơn 1.3 lần so với nỗi đau họ phải trải qua trong một cuộc ly hôn. Một quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp gia tăng thì cư dân sẽ giảm mức độ hạnh phúc tương đương với khi GDP nước này giảm 5.7%. Nghiên cứu của ông gây ra nhiều tranh cãi bởi nó đặt một dấu chấm hỏi về quan điểm của các nhà kinh tế đương thời. Các nhà kinh tế học truyền thống cho rằng nếu một người bị mất việc trong một cuộc suy thoái, họ có thể coi đó là cơ hội để đi nghỉ mát, hoặc để đào tạo thêm, hay thử một việc gì mới. Trong mô hình truyền thống, khó khăn duy nhất mà một người phải đối mặt khi mất việc là mất tiền lương tạm thời. Đo lường theo cách truyền thống, ở cấp quốc gia, chi phí cho một cá nhân mất việc là rất nhỏ, trung bình khoảng 200USD/năm. Việc điều chỉnh lại hoàn cảnh, nghỉ làm hoặc tìm việc mới được cho là diễn ra nhanh chóng. MacCulloch cho rằng các chuyên gia kinh tế đã mắc sai lầm rất lớn. “Nếu bạn đến gặp bác sĩ và họ hỏi bạn đang cảm thấy thế nào, bác sĩ sẽ lắng nghe câu trả lời của bạn một cách nghiêm túc, các nhà kinh tế học thì không.” Kinh tế vĩ mô hạnh phúc (Macroeconomics of happiness) Quan điểm kinh tế thịnh hành cho rằng dữ liệu dựa trên đánh giá chủ quan của mọi người về hạnh phúc là vô nghĩa. Do đó, phát hiện của MacCulloch về tác động của những thăng trầm kinh tế đối với cảm giác hạnh phúc của con người là một bước đột phá lớn. Bằng cách giới thiệu các cụm từ mới như 'Kinh tế vĩ mô hạnh phúc', MacCulloch đã giúp mở ra lăng kính lấy con người làm trung tâm để định hình tư duy và chính sách kinh tế. Điều này trái ngược với quan điểm phổ biến đã định hình chính sách kinh tế ở phương Tây từ nửa cuối thế kỷ 20. “Các mô hình kinh tế học trước đây, đặc biệt là Trường phái Chicago ở Hoa Kỳ, với trọng tâm duy nhất là GDP và quan điểm duy vật, đã không giải thích được các sự kiện lớn của nền kinh tế thế giới. Trường phái Chicago bao gồm nhóm các nhà kinh tế học có ảnh hưởng nhất từ ​​cuối thế kỷ 20 cho đến ngày nay, trong đó có người đoạt giải Nobel Milton Friedman. Các công trình nghiên cứu của của họ về thị trường và thương mại tự do vẫn có ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên, MacCulloch cho rằng ngày càng có nhiều nghi ngờ về những mô hình kinh tế này sau sự sụp đổ thị trường cổ phiếu toàn cầu năm 1987 và suy thoái kinh tế sau đó. Một vấn đề trong việc phổ biến công trình của MacCulloch đó là các tạp chí kinh tế uy tín đa số được xuất bản tại Hoa Kỳ, và được duyệt bởi các nhà kinh tế thuộc trường phái kinh tế Hoa Kỳ. Do đó, MacCulloch và những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Kinh tế Hạnh phúc gặp nhiều khó khăn khi công bố nghiên cứu của họ. MacCulloch nói: “Chủ đề này không phổ biến ở Hoa Kỳ. Tôi nghĩ đó là do văn hóa và cũng bởi vì trọng tâm của người Mỹ là tối đa hóa lợi nhuận và thị trường tự do.” Trước MacCulloch, việc lấy GDP là thước đo duy nhất cho thịnh vượng của một quốc gia đã từng vấp phải những ý kiến phản đối. MacCulloch đề cập đến bài phát biểu vào năm 1968 tại Kansas của Robert Kennedy khi đang là ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ: “GDP không thể hiện sức khỏe của con cái chúng ta, không cho thấy chất lượng giáo dục hay niềm vui của trẻ. Nó không bao gồm vẻ đẹp của thơ ca, sự bền vững của hôn nhân, tính sắc sảo trong các cuộc tranh luận, hay sự liêm chính của công nhân viên chức. Nó không đo được lòng dũng cảm, trí tuệ, hay sự tận tâm của chúng ta đối với đất nước. Nói cách khác, GDP đo lường mọi thứ, nhưng lại không đo được những điều làm cho cuộc sống này trở nên đáng sống.” Đo lường thịnh vượng bằng GDP trở thành một câu hỏi lớn đối với các nhà kinh tế học sau khi Richard Easterlin, Giáo sư Kinh tế tại Đại học Nam California,  xuất bản bài báo “Tăng trưởng kinh tế có cải thiện số phận con người hay không” vào năm 1974. Easterlin có thể được coi là cha đẻ của cách tiếp cận hạnh phúc trong kinh tế học. Nghiên cứu của Easterlin chỉ ra rằng trong một quốc gia, những người giàu thường hạnh phúc hơn nhiều so với người nghèo, nhưng những quốc gia giàu thì không hạnh phúc hơn những quốc gia nghèo, và khi một quốc gia trở nên giàu có hơn về của cải, mức độ hạnh phúc của họ cũng dần bão hòa và không tăng lên nữa. Kinh tế thần kinh học (Neuro-economics) trong tương lai MacCulloch nhận xét: “Lập luận của Easterlin đánh vào cốt lõi ý nghĩa của đời sống kinh tế trên hành tinh này. Tất cả chúng ta đều đang vật lộn để sản xuất ra nhiều của cải hơn, nhưng điều đó có làm cho chúng ta hạnh phúc hơn không?” Ông cho rằng sự khác biệt về hạnh phúc giữa người nguyên thủy và chúng ta không tỷ lệ thuận với sự khác biệt trong thu nhập. Nhờ những tiến bộ trong khoa học y tế, chúng ta ngày càng hiểu nhiều hơn về cách hoạt động của não bộ. Thậm chí còn có một lĩnh vực mới hiện nay được gọi là kinh tế thần kinh học. MacCulloch dự đoán một ngày nào đó, chúng ta sẽ có thể đo lường hạnh phúc một cách chính xác thông qua phản ứng của não bộ. Điều này rồi sẽ thay đổi suy nghĩ của những nhà kinh tế hiện chỉ đo lường mức độ hạnh phúc bằng số dư tài khoản ngân hàng của chúng ta. HAPRI lược dịch Nguồn: https://www.auckland.ac.nz/en/news/2021/02/17/the-economics-of-happiness-and-well-being.html

Kinh tế học hạnh phúc từ góc nhìn của một giáo sư Đại học Auckland, New Zealand

Feb 22, 2021

7

mins read

Trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (World Happiness Report) hàng năm, New Zealand liên tục nằm trong top 10 quốc gia hạnh phúc nhất trên...

Livelihood vulnerability and adaptability of coastal communities to extreme drought and salinity intrusion in the Vietnamese Mekong Delta. New research article by Dr. Trần Đức Dũng, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) and Dr. Võ Tất Thắng, Director of HAPRI in International Journal of Disaster Risk Reduction, Vol. 57, No. 102183, April 2021. Dung Duc Tran, Man Minh Dang, Bui Du Duong, William Sea, Thang Tat Vo. "Livelihood vulnerability and adaptability of coastal communities to extreme drought and salinity intrusion in the Vietnamese Mekong Delta", International Journal of Disaster Risk Reduction, Volume 57 (2021), ISSN 2212-4209. DOI: https://doi.org/10.1016/j.ijdrr.2021.102183. Keywords: Drought; Salinity; Sustainability; Vulnerable; Adaption; Mekong delta Abstract:
Many deltas worldwide have increasingly faced extreme drought and salinity  intrusion, which have adversely affected millions of coastal inhabitants  in terms of lives and property. The Vietnamese Mekong Delta (VMD) is considered one of the world's most vulnerable regions to drought and saline water intrusion, especially in the context of climate change. This study aims to assess livelihood vulnerability and adaptation of the coastal people of the VMD under the impacts of drought and saltwater intrusion.  A multi-disciplinary approach was applied, including desktop literature reviews, field surveys, interviews, and focus group discussions with 120 farmers and 30 local officials in two representative hamlets of Soc Trang, a coastal province of the VMD. A vulnerability assessment tool in combination with a sustainable livelihood framework was used to evaluate livelihood  vulnerability using the five capital resources to indicate the largest effects of drought and salinity intrusion on the migration of local young people to large cities for adaptation. Livelihood Vulnerability Indexes revealed higher vulnerability in terms of the five capitals of coastal communities living in Nam Chanh hamlet compared to Soc Leo.  Results of interviews with officials indicated an optimized mechanism between social organizations and local communities before, at the time, and after being impacted by the drought and salinity intrusion. Our findings contribute evidence-based knowledge to decision-makers to enable coastal communities in the VMD and other deltas worldwide to effectively adapt to the impacts of drought and salinity intrusion. Main points: In Fig. 5a, our data analysis reveals that 42 of the 120 surveyed households (35%) migrated from Lich Hoi Thuong to large cities for new livelihoods. Households that had one-member migration accounted for 54.8% (23 households), two-member migration accounted for 33.3% (14 households), and three-member migration accounted for 4.8% (2 households). With 7.1% households that had over 4 members migrating, 1 household (2.3%) had four members migrating, and 2 households (4.8%) had five migrating members. Of the total of 42 households having migration, the proportion of male members accounts for 70%. Fig. 5b shows the percentage of household member migration in the two hamlets. For Soc Leo, there were 17 households with migration (40% of total households having members migrating). For these migrations, 7 households had 1 migrant, and 9 households had 2 migrants, equivalent to 41.2% and 52.9% respectively. Only one household had 4 migrants, which accounted for 6%. For Nam Chanh, there were 25 households having migration of family members (60% of total households having members migrating), with 16 households with 1 migrant (64%), 5 households with 2 migrants (20%), 2 households with 3 migrants (8%) and 2 households with 2 members migrating (8%). Our research findings present that farmers’ livelihoods in two coastal hamlets of the Vietnamese Mekong Delta (VMD) were vulnerable to the impacts of salinity intrusion and droughts in 2015–2016. LVI indexes indicate that Nam Chanh hamlet (LVI = 0.484, LVI-IPCC = - 0.027) has a higher vulnerability than Soc Leo (LVI = 0.446, LVI-IPCC = - 0.037). Still LVI-IPCC indexes show Nam Chanh is relatively less vulnerable than Soc Leo due to the higher adaptive capacity found in the former. More attention should be paid to Human, Natural, and Financial resources in improving the capacity of people to cope with climate change and adaptation to saline intrusion and droughts. For the Human capital, the high fraction of households that regularly visits clinics and has low preparedness in training to cope with the salinity intrusion and droughts increased the vulnerability. For the Natural capital, the high proportion of households has used rainwater and river water resources for their agricultural production that put more attention to local authorities for protection. For the Financial resources, the high rate of households that borrowed money for their production presents a venerable status in both hamlets. We also found that adaptation options are highly appreciated by farmers in both Nam Chanh and Soc Leo. Analysis of results of five capital resources based on the DFID framework indicated various impacted levels of salinity intrusion and droughts on the perspectives of vulnerability and adaptation. Migration should be taken into account since 35% of interviewed households informed that their family members had to move to big cities during and after the salinity intrusion and drought. We also found a close relationship between saltwater intrusion and droughts and migration in terms of food security, health risk, and gender. Regarding gender inclusiveness under the disaster impacts, our findings revealed that poor households probably had less opportunity to change their livelihoods when their land and crops were damaged. Our study elaborated on the existing roles and coordination between governmental agencies and social organizations that directly and indirectly support coastal communities before, at the time, and afterwards being impacted by salinity intrusion and droughts. Conclusion: This study has assessed the livelihood vulnerability and adaptability to drought and salinity intrusion of coastal communities in Soc Trang province of the Vietnamese Mekong Delta. Based on the research findings and discussion, we conclude: • Coastal inhabitants, especially farmers in Soc Trang province, are strongly affected by the impacts of salinity intrusion and drought. Their agricultural livelihoods are vulnerable to shocks and stresses caused by the changes. However, farmers are willing to cope with and adapt to the changes, and likely require the support from the local government in the short term and long term. • The coordination mechanism has been established and operated in the study area to help residents respond to the drought and salinity intrusion. However, this mechanism should be flexible and may be revised to suit the local living conditions and future changes if it is necessary. The roles of each organization in the coordination scheme have been declared, but the authorities need to put these into practice regularly to be well-prepared for any situation. An incentive policy has been announced but it should be strictly implemented to motivate stakeholders in the coordination mechanism.

Livelihood vulnerability and adaptability of coastal communities to extreme drought and [...]

Mar 26, 2021

4

mins read

Livelihood vulnerability and adaptability of coastal communities to extreme drought and salinity intrusion in the Vietnamese Mekong...

HAPRI is ranked 113th in top 2020 Social Policy Think Tanks and listed in top 2020 Best New Think Tanks by Think Tanks and Civil Societies Program (TTCSP). TTCSP is conducted by the Lauder Institute at the University of Pennsylvania, aiming to look at the role policy institutes play in governments and civil societies around the world. TTCSP examines the evolving role and character of public policy research organizations. Over the last 30 years, TTCSP has developed and led a series of global initiatives that have helped bridge the gap between knowledge and policy in critical policy areas such as international peace and security, globalization and governance, international economics, environmental issues, information and society, poverty alleviation and healthcare and global health. These international collaborative efforts are designed to establish regional and international networks of policy institutes and communities that improve policymaking while strengthening democratic institutions and civil societies around the world. TTCSP works with leading scholars and practitioners from think tanks and universities and produces the annual Global Go To Think Tank Index that ranks the world’s leading think tanks in a variety of categories. The annual think Tank Index is used by academics, journalists, donors and the public to locate and connect with the leading centers of public policy research around the world. TTCSP’s goal is to increase the profile and performance of think tanks and raise the public awareness of the important role think tanks play in governments and civil societies around the globe. What is a Think tank? Think tanks are public policy research, analysis, and engagement organizations. They are organizations that generate policy-oriented research, analysis, and advice on domestic and international issues that enable policymakers and the public to make informed decisions about public policy issues. Think tanks may be affiliated with political parties, governments, interest groups, or private corporations or constituted as independent nongovernmental organizations (NGOs). These institutions often act as a bridge between the academic and policymaking communities, serving the public interest as an independent voice that translates applied and basic research into a language and form that is understandable, reliable, and accessible for policymakers and the public. Top Social Policy Think Tanks is dedicated to the leading social policy institutions of the global community. The top think tanks in this category provide superior, innovative research and strategic analyses on topics about a wide array of social issues and challenges. These think tanks excel in research, analysis, and public engagement on a wide range of policy issues with the aim of advancing debate, facilitating cooperation between relevant actors, maintaining public support and funding, and improving the overall quality of life in one of the relevant countries. Best New Think Tanks are think tanks that have been established in the last 24 months and are centers of excellence. The Think Tank Index Process ▸ Call for Expert Panel Members and Update of TTCSP Think Tank Database: April—August 2020 ▸ Round I: Nominations, September—October 2020
 A call for Nominations was sent to over 8,100 think tanks and approximately 12,800 journalists, public and private donors, and policymakers worldwide. ▸ Round II: Peer and Expert Rankings, October 2020
 Think tanks with 10 or more nominations were placed in an electronic ranking survey. A letter announcing the second round was emailed to all the think tanks, journalists, public and private donors, and policymaker groups who agreed to participate in the process. Regional and Functional Expert Panels were used for every category. These specialists were consulted to help assure the quality and accuracy of the nominations before they were placed on the final rankings survey. ▸ Round III: Expert Panel Selects 2020 Go To Think Tanks, November—December 2020
 The members of the Expert Panel received information packets by email to facilitate the final selection process. Individuals who served on last year’s Expert Panel and those who were nominated this year were invited to serve on the 2020 Expert Panel. Experts from every region and functional area were represented on the Expert Panel. Panelists submitted their rankings and recommendations during December 2020. ▸ 2020 Global Go To Think Tank Report Launch: The 2020 Global Go-To Think Tank Rankings was released in New York, Washington D.C., and over 100 cities around the world on January 30, 2021. Viet Nam is in top 10 countries in the world and top 4 Asia countries with the largest number of think tanks. Countries with the Largest Number of Think Tanks More information at: gotothinktank.com/global-goto-think-tank-index __________________________________________________________ HAPRI xếp hạng thứ 113 trên Top 2020 Social Policy Think Tanks của TTCSP HAPRI xếp hạng thứ 113 trên Top 2020 Social Policy Think Tanks và thuộc top 2020 Best New Think Tanks của Think Tanks and Civil Societies Program (TTCSP). Think Tanks and Civil Societies Program (TTCSP) được thực hiện bởi Viện Lauder Institute, trường đại học Pennsylvania, Hoa Kỳ, nhằm đánh giá vai trò của các viện chính sách đối với các chính phủ. Trong 30 năm qua, TTCSP đã phát triển và dẫn đầu một loạt các sáng kiến giúp thu hẹp khoảng cách giữa kiến ​​thức và chính sách trong các lĩnh vực quan trọng. Những nỗ lực hợp tác quốc tế này nhằm thiết lập mạng lưới gồm các viện chính sách trên phạm vi toàn cầu, nhằm cải thiện việc hoạch định chính sách, đồng thời củng cố các thể chế dân chủ và xã hội trên toàn thế giới. TTCSP làm việc với các học giả và chuyên gia hàng đầu từ các tổ chức tư vấn và trường đại học, tạo ra Chỉ số Global Go To Think Tank hàng năm nhằm xếp hạng các “think tanks” hàng đầu thế giới, với sự giúp đỡ của một hội đồng gồm hơn 1.796 tổ chức và các chuyên gia từ các cơ quan truyền thông, học viện, các tổ chức tài trợ công và tư nhân, và các chính phủ trên khắp thế giới. Mục tiêu là để quảng bá thành quả của các “think tanks”, nhằm tăng cường nhận thức của công chúng về những vai trò quan trọng của “think tanks” đối với chính phủ và xã hội. Think tank là gì? “Think tank” là các tổ chức nghiên cứu, phân tích, và làm chính sách về các vấn đề trong nước và quốc tế, cho phép các nhà hoạch định chính sách và công chúng đưa ra quyết định sáng suốt về các vấn đề chính sách. “Think tank” có thể được liên kết với các đảng phái chính trị, chính phủ, nhóm lợi ích hoặc các tập đoàn tư nhân hoặc được cấu thành như các tổ chức phi chính phủ độc lập (NGO). Các tổ chức này thường đóng vai trò là cầu nối giữa cộng đồng học thuật và hoạch định chính sách, phục vụ lợi ích công như một đại diện độc lập, biến các nghiên cứu ứng dụng và cơ bản sang ngôn ngữ và hình thức dễ hiểu, đáng tin cậy và dễ tiếp cận cho các nhà hoạch định chính sách và công chúng. Top Social Policy Think Tanks là nhóm các tổ chức về chính sách xã hội hàng đầu trên toàn thế giới. Các tổ chức trong danh mục này thực hiện các nghiên cứu sáng tạo, vượt trội, đưa ra những phân tích chiến lược về nhiều vấn đề mang tính thách thức trong xã hội. Những “think tanks” này nổi trội trong nghiên cứu, phân tích, và cam kết cộng đồng về các vấn đề chính sách với mục đích thúc đẩy các cuộc tranh luận, tạo điều kiện hợp tác giữa các bên có liên quan, duy trì hỗ trợ và tài trợ cộng đồng, và nâng cao chất lượng tổng thể của cuộc sống tại các quốc gia. Best New Think Tanks là các “think tanks” mới được thành lập và được đánh giá là xuất sắc nhất trong 24 tháng qua. Quy trình ▸ Kêu gọi thành viên Ban chuyên gia và Cập nhật Cơ sở dữ liệu TTCSP Think Tank: Tháng 4 - Tháng 8 năm 2020 ▸ Vòng I: Đề cử, tháng 9 - tháng 10 năm 2020 ▸ Vòng II: Xếp hạng, tháng 10 năm 2020 ▸ Vòng III: Lựa chọn của Ban chuyên gia, tháng 11 - tháng 12 năm 2020 ▸ 2020 Báo cáo Global Go To Think Tank được công bố: phát hành tại New York, Washington DC, và hơn 100 thành phố trên toàn thế giới vào ngày 30 tháng 1, năm 2021. Năm 2020, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia trên thế giới và top 4 châu Á có số lượng các “think tanks” nhiều nhất. Các quốc gia có số lượng “think tanks” nhiều nhất Thông tin thêm tại: gotothinktank.com/global-goto-think-tank-index

HAPRI is ranked 113th in top 2020 Social Policy Think Tanks by TTCSP

Feb 11, 2021

6

mins read

HAPRI is ranked 113th in top 2020 Social Policy Think Tanks and listed in top 2020 Best New Think Tanks by Think Tanks and Civil...

Following a series of HAPRI TALKS, on 24 Mar 2021, the workshop “Head, Heart and Hands – Journey is the Destination” took place at campus B University of Economics HCMC. Mr Nguyen Gia Thi,  a Vietnamese by heart, German on paper - shared his journey around various countries and positions in the corporate world with Siemens Healthineers. The workshop was hosted by Dr. Vo Tat Thang - the director of Health and Agricultural Policies Research Institute and attracted much attention from both lecturers and students. In the charming atmosphere, Mr. Thi shared his same concern with current students about choosing the right career. He admitted the complexity in the labor market and emphasized the importance of self-orientation in each one's life. Under the uncertainty and complexity, asking the right questions (What makes your job calling?, What is your passion? etc.) is so important even though the answers are clear yet. Also, Mr. Thi shared his valuable experience which he gained through 19 years working in the industry in Germany, Spain, and Vietnam, He values the formula 3Hs (Head, Heart, and Hands), which is the key to success. For him, 2 Hs are never enough, always apply all 3 Hs. He added: “The longest distance is 55 centimeters, which is from your head to your heart and vice versa” to emphasize transferring the knowledge in your head into the excitement and passion in your work. Last but not least, Mr. Thi expressed his happiness when sharing his experience with other people. For him, this created his values and this is much more valuable than anything else. In the end, Mr. Thang expressed his regard to Mr. Thi with promising cooperation for the next events of HAPRI. You can connect with Mr. Thi through LinkedIn and Zalo by scanning QRcode below. Mr. Thi facebook: https://www.facebook.com/cannotbeallnumbers See you on the next HAPRI TALKS event, as well as on other HAPRI events! HAPRI TALKS: HEAD - HEART - HANDS Tiếp nối chuỗi HAPRI TALKS, ngày 24/03/2021, hội thảo “Head, Heart and Hands – Journey is the Destination” đã diễn ra tại cơ sở B Trường Đại học Kinh tế TP.HCM. Anh Nguyễn Gia Thi, một người Đức gốc Việt - đã chia sẻ hành trình của mình trên nhiều quốc gia với những vị trí khác nhau tại Siemens Healthineers. Hội thảo do Thầy Võ Tất Thắng - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Y tế chủ trì và thu hút được nhiều sự quan tâm của cả giảng viên và sinh viên. Trong không khí gần gũi, thân mật, anh Thi đã chia sẻ mối quan tâm của mình dành cho các bạn sinh viên hiện nay về việc chọn ngành nghề phù hợp. Anh thừa nhận sự phức tạp của thị trường lao động và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự định hướng trong cuộc sống của mỗi người. Trong điều kiện không chắc chắn và phức tạp, việc đặt những câu hỏi phù hợp (Điều gì khiến công việc của bạn hấp dẫn?, Đam mê của bạn là gì?...) là rất quan trọng mặc dù đôi khi câu trả lời đã rõ ràng. Anh Thi cũng chia sẻ những kinh nghiệm quý báu mà ông có được qua 19 năm làm việc trong lĩnh vực công nghiệp tại Đức, Tây Ban Nha và Việt Nam. Đặc biệt, anh coi trọng công thức 3Hs (Head - Heart - Hands) và cho rằng đây chính là chìa khóa thành công. Với anh, hai Hs (Head - Heart) không bao giờ là đủ mà phải luôn áp dụng cả ba Hs (Head-Heart-Hands). Anh ấy nói thêm: “Khoảng cách xa nhất là 55 cm từ đầu đến trái tim của bạn và ngược lại” để nhấn mạnh việc chuyển giao kiến thức thành niềm đam mê và yêu thích trong công việc. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, anh Thi bày tỏ niềm hạnh phúc lớn lao khi chia sẻ kinh nghiệm của mình với mọi người. Đối với anh ấy, điều này đã tạo nên giá trị riêng của anh và nó giá trị hơn nhiều so với bất cứ điều gì khác. Cuối cùng, thầy Võ Tất Thắng bày tỏ sự cảm kích đến ông Thi cùng với sự hợp tác đầy hứa hẹn cho các sự kiện tiếp theo của HAPRI. Kết nối với anh Thi qua LinkedIn và Zalo bằng cách scan mã QR dưới đây. Facebook của anh Thi: https://www.facebook.com/cannotbeallnumbers Hẹn gặp lại các bạn vào các sự kiện khác của HAPRI!

HAPRI TALKS: HEAD - HEART - HANDS

Mar 24, 2021

3

mins read

Following a series of HAPRI TALKS, on 24 Mar 2021, the workshop “Head, Heart and Hands – Journey is the Destination” took place at campus...

Climate change and livelihood resilience capacities in the Mekong Delta: a case study on the transition to rice–shrimp farming in Vietnam’s Kien Giang Province New research article by Dr. Trần Anh Thông, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) in Climatic Change, Vol. 164, Number 9, 2021. Thijs Poelma, Mucahid Mustafa Bayrak, Duong Van Nha, and Thong Anh Tran. “Climate change and livelihood resilience capacities in the Mekong Delta: a case study on the transition to rice–shrimp farming in Vietnam’s Kien Giang Province.” Climatic Change 164, 9 (2021). DOI: https://doi.org/10.1007/s10584-021-02973-w ABSTRACT: Responding to changing climatic conditions in the Mekong Delta (MKD), Vietnam’s national and provincial governments have in recent years placed greater emphasis on aquaculture-oriented farming practices, such as shrimp and rice–shrimp farming, instead of rice monoculture. This study assessed whether the transition to rice–shrimp and extensive shrimp farming has enhanced the livelihood resilience of local farmers in Kiên Giang—a coastal province in the MKD—to climate change. A theoretical framework was developed, which combined the resilience capacities framework with the subjective resilience and Resilience Index Measurement Analysis frameworks. Subsequently, the framework was applied to examine three types of agricultural-based livelihoods: (1) monocrop rice farming; (2) rice–shrimp farming; and (3) extensive shrimp farming. A mixed-methods approach was undertaken consisting of both in-depth and semistructured interviews as well as household surveys (n = 120). The findings demonstrated that rice–shrimp farmers’ livelihoods were relatively the most resilient to climate change. On the other hand, rice farmers were generally more able to recover from climate stressors, such as drought and saline intrusion, whereas shrimp farmers, lacking transformative capacity, were the least resilient. This study concluded that the governmental decision to transition Kiên Giang’s agricultural sector towards rice–shrimp farming has been relatively successful.

Climate change and livelihood resilience capacities in the Mekong Delta [...]

Feb 4, 2021

2

mins read

Climate change and livelihood resilience capacities in the Mekong Delta: a case study on the transition to rice–shrimp farming in...

 
  • Hội thảo: Định hướng chiến lược phát triển Kiên Giang giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050
    Hội thảo: Định hướng chiến lược phát triển Kiên Giang giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050
    RSVP Closed
    Details
    Jun 22, 9:00 AM – 12:00 PM GMT+7
    Hội thảo: Định hướng chiến lược phát triển
  • HAPRI TALKS 3: Find THE JOB: Head, Heart, Hands – Journey is the Destination
    HAPRI TALKS 3: Find THE JOB: Head, Heart, Hands – Journey is the Destination
    RSVP Closed
    Details
    Mar 24, 11:00 AM – 12:00 PM
    B1 - 204, Cơ sở B, Đại học Kinh tế TPHCM, 279 Nguyễn Tri Phương, Phường 5, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Vietnam
  • HAPRI SEMINAR: The importance of registering Geographical Indication products in the international market
    HAPRI SEMINAR: The importance of registering Geographical Indication products in the international market
    RSVP Closed
    Details
    Jan 29, 8:30 AM – 11:30 AM
    B1 - 204, Đại học Kinh tế TPHCM, 279 Nguyễn Tri Phương, Phường 5, District 10, Ho Chi Minh City, Vietnam
    Hội thảo về chủ đề “Tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ Chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm.”
  • HAPRI TALKS: Gender, equality and economic complexity
    HAPRI TALKS: Gender, equality and economic complexity
    RSVP Closed
    Details
    Jan 13, 11:00 AM – 1:00 PM
    B1 - 203, 279 Nguyễn Tri Phương, Phường 5, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Vietnam
  • Vietnam South-eastern Region Innovation Start-up Festival 2020 and Innovation for Business Summit 2020
    RSVP Closed
    Details
    Nov 24, 2020, 8:00 AM – 5:00 PM
    Campus B, University of Economics HCMC, 279 Nguyen Tri Phuong, Ward 5, District 10, Ho Chi Minh City, Vietnam
    Vietnam South-easterInnovation Start-up Festival (TECHFEST) 2020 will be held at the University of Economics, Ho Chi Minh City on November 24, 2020. HAPRI would like to invite individuals, collectives and businesses interested in multidisciplinary innovative start-ups to participate in this event.
  • Students Meet Enterprises (SMEs) - Series 1:   KOI Capital - Investment Opportunities in the Age of Covid-19
    Students Meet Enterprises (SMEs) - Series 1: KOI Capital - Investment Opportunities in the Age of Covid-19
    RSVP Closed
    RSVP
    Aug 14, 2020, 7:00 PM – 8:30 PM GMT+7
    Zoom Webinar
    KOI Capital exchanges ideas with UEH students on investment risks and opportunities during the pandemic.
  • HAPRI's Launch Event
    HAPRI's Launch Event
    RSVP Closed
    Details
    Jun 16, 2020, 9:00 AM – 11:00 AM GMT+7
    Room A.103, 59C Nguyễn Đình Chiểu, Ward 6, District 3, Hồ Chí Minh City, Vietnam
    Introduction of Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) to the public at the University of Economics Ho Chi Minh City.
  • Seminar on Economic Research: "Does trade liberalization always have positive effects on household welfare in Vietnam?"
    Seminar on Economic Research: "Does trade liberalization always have positive effects on household welfare in Vietnam?"
    RSVP Closed
    Details
    May 21, 2020, 11:00 AM – 12:00 PM GMT+7
    Meeting room 10.01, 279 Nguyễn Tri Phương, Ward 5, District 10, Hồ Chí Minh City, Vietnam
    Does trade liberalization always have positive effects on household welfare in Vietnam? Liệu tự do thương mại quốc tế luôn tốt đối với phúc lợi hộ gia đình ở Việt Nam?
  • Opening Ceremony
    Opening Ceremony
    RSVP Closed
    Details
    Feb 10, 2020, 8:00 AM GMT+7 – Feb 17, 2020, 12:00 PM GMT+7
    Room 10.02, Floor 10, Campus B, University of Economics HCMC, 279 Nguyen Tri Phuong, Ward 5, Distric 10, Ho Chi Minh city, Vietnam
    HAPRI opening ceremony
  • Fulbright Scholarship Information Session
    Fulbright Scholarship Information Session
    RSVP Closed
    Details
    Jan 10, 2020, 10:00 AM – 11:30 AM GMT+7
    Room A103, 59c Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, Hồ Chí Minh, Vietnam
    By US Embassy in Vietnam at the University of Economics HCMC