Welcome

“The soil is the great connector of lives, the source, and destination of all.

It is the healer and restorer and resurrector, by which disease passes into health, age into youth, death into life.

Without proper care for it, we can have no community because without proper care for it, we can have no life.”
Wendell Berry, The Unsettling of America: Culture and Agriculture

 
"Impact of Trade Liberalization on Household Welfare: An Analysis Using Household Exposure-to-Trade Indices". A new research article by Dr. Võ Tất Thắng, Director of Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) and Nguyễn Xuân Định, Research Associate, in Social Indicators Research, Forthcoming 2020. The paper quantifies the impact of trade liberalization at the  household level using data from the Vietnam Household Living Standard  Survey from 2002 to 2016. Household welfare is measured using income,  expenditure, and vulnerability to poverty. Unlike previous studies, we  address potential endogeneity at the household level by constructing  household exposure-to-trade indices as a proxy for trade liberalization.  These indices are advantageous as they capture the influence of trade  liberalization at the national level and the households’ ability to  respond to new opportunities. The results suggest that trade liberalization improves Vietnamese household income and expenditure via  the export channel or the expansion of labor demand. Tariff reduction for exported goods is less favorable to household welfare. The impact of  trade liberalization became smaller and less significant after the  global downturn in 2008. Rural households suffered more vulnerability  from trade, and the poor gained fewer benefits after the financial  crisis in 2008. The results also imply that trade liberalization had different impact on  households over time, although opening process had positive impact on  the entire population over the long term. Our study highlights that  trade liberalization can have adverse effects on an economy after an  external economic shock and that the government should also focus on the  disadvantages of rural households and the poor. Programs or policies  that enable these groups to respond to changes in the labor market or to  cope with potential risks from trade would be beneficial. Thắng Võ and Định Nguyễn. "Impact of Trade Liberalization on Household Welfare: An Analysis Using Household Exposure-to-Trade Indices," Social Indicators Resarch, Forthcoming 2020, ISSN 1573-0921, DOI: 10.1007/s11205-020-02499-1.

Impact of Trade Liberalization on Household Welfare

2

mins read

The paper quantifies the impact of trade liberalization at the household level using data from the VHLSS

New research article by Dr. Nguyễn Văn Kiền, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) in Global Food Security, Vol. 26, September 2020. David Dumaresq, Kien van Nguyen, Jamie Pittock, Min Oo, Kimchhin Sok, Tran van Hieu, Louise Blessington. "The paradoxical values of traditional deep water floating rice systems", Global Food Security, 26 (2020), pp. 100391, ISSN 2211-9124, DOI: 10.1016/j.gfs.2020.100391. Highlights: Deep water floating rice being replaced by high yielding varieties in Asia. Commodity-value-chain analysis shows real food system outputs of SE Asian floating rice systems. Rice, processed foods, stock feed, wild foods, dry season crops, animal production. Dismal farmer returns versus high value downstream products - poor signals, poor value-transfer. Commodity-value-chain changes can realise sustainable food and income for floating rice systems. Abstract: Deep water floating rice (DW-FR) production has declined substantially across Asia, despite being a source of nutritious, culturally important, and flood-adapted food. Low perceived commercial value, and the desire for increased rice exports, has led to intensified farming of high yielding variety (HYV) rice. We used a commodity-value-chain analysis to investigate the values of DW-FR in Cambodia, Vietnam, and Myanmar. Poor communication and value-transference along the supply chain lead to farmers receiving poor returns for DW-FR despite its high ecological, cultural, and commercial value in downstream markets. With minor adjustments, DW-FR systems could provide more sustainable livelihoods for farmers and greater food system security. For better returns we suggest implementation of improvements to breeding, farming, transport, processing, better access to finance, improved communication, and development of other rice products.

The paradoxical values of traditional deep-water floating rice systems

1

mins read

New research article by Dr. Nguyễn Văn Kiền, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) in Gl...

UEH đem đến cho các sĩ tử 2k2 thêm nhiều cơ hội để trở thành tân sinh viên Trường Đại học Kinh tế TP.HCM bằng cách đăng ký điều chỉnh nguyện vọng với mã KSV - Phân hiệu UEH tại Vĩnh Long. Thông báo xét tuyển Đại học hệ Chính quy năm 2020. Mã trường: KSV. Chỉ tiêu: 300. Các chuyên ngành đào tạo, gồm: (1)	Kinh tế và Kinh doanh nông nghiệp, (2)	Quản trị, (3)	Kinh doanh quốc tế, (4)	Ngân hàng, (5)	Kế toán doanh nghiệp, (6)	Thương mại điện tử. Phương thức xét tuyển:  Xét tuyển dựa vào kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2020. Cụ thể: Các thí sinh tại khu vực ĐBSCL có kết quả khoảng từ 16 điểm trở lên trong các tổ hợp 3 môn của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020 có thể cân nhắc thực hiện thay đổi, bổ sung nguyện vọng về mã trường KSV trong thời gian từ ngày 19/9 đến 27/9/2020 để có cơ hội trúng tuyển vào các chương trình đào tạo ĐHCQ của UEH tại Vĩnh Long. Các thí sinh thực hiện điều chỉnh nguyện vọng về mã trường KSV theo 2 cách sau: ✔️Cách 1: Bằng hình thức trực tuyến: Điều chỉnh trên trang thisinh.thithptquocgia.edu.vn của Bộ GD&ĐT, từ 19/9 đến 25/9/2020; ✔️Cách 2: Bằng Phiếu điều chỉnh nguyện vọng: Nộp về Trường THPT nơi thí sinh đăng ký thi THPT năm 2020, từ 19/9 đến 27/9/2020. Sinh viên học tại Phân hiệu Vĩnh Long, có những ưu điểm sau: Chương trình đào tạo Đại học chính quy thống nhất với cơ sở chính Tp. Hồ Chí Minh. Giáo viên giảng dạy: Do Thầy/Cô từ cơ sở TP.HCM đảm nhận giảng dạy khóa đầu tiên; Bằng tốt nghiệp Đại học chính quy thống nhất; (không phân biệt học tại Vĩnh Long hay tại Tp Hồ Chí Minh); Học phí chỉ nộp bằng 80% của TP.HCM; a) Được bố trí ở KTX (đáp ứng 100%) và miễn lệ phí KTX học kỳ đầu tiên; b) Được xét cấp nhiều học bổng cho học kỳ đầu và các học kỳ tiếp theo. c) Được giới thiệu việc làm bán thời gian trong thời gian học tập, được giới thiệu việc làm sau tốt nghiệp. Mọi thông tin yêu cầu tư vấn, Quý phụ huynh và các em thí sinh thuộc 13 tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long có thể tham khảo tại: http://k2020.ueh.edu.vn/vinhlong/ hoặc Website: www.vinhlong.ueh.edu.vn Thông tin liên hệ: Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh - Phân hiệu Vĩnh Long Số 1B, Nguyễn Trung Trực, Phường 8, TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Điện thoại: 02703.823.443 – Hotline: 0899.00.29.39 Zalo: 0899.00.29.39 Facebook: facebook.com/UEHVinhLong

Cơ hội Sở hữu Bằng Cử nhân Chính quy Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH)

2

mins read

UEH đem đến cho các sĩ tử 2k2 thêm nhiều cơ hội để trở thành tân sinh viên Trường Đại học Kinh tế TP.HCM bằng cách đăng ký điều chỉnh ngu...

New research report by Dr. Trần Anh Thông, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute - HAPRI for International Pollutants Elimination Network (IPEN). The purpose of the project study was to Provide a general overview of pesticides registered and used in Vietnam, and on what crops; Identify manufacturers and exporters; Outline efforts in the country to phase out the use of highly hazardous pesticides and the challenges therein; and Provide information about  the use of alternative, non-chemical approaches such as ago-ecology in agricultural practices in Vietnam This report relates to Sustainable Development Goals 2, 3, 6, 8, 12, 13, 14 and 15. ------------------------------------------------------------------- Thuốc trừ sâu nguy hiểm cao ở Việt Nam: Phân tích tình huống Báo cáo nghiên cứu mới của TS Trần Anh Thông, Nghiên cứu viên Cao cấp tại Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe - HAPRI cho International Pollutants Elimination Network (IPEN). Mục đích của nghiên cứu dự án là Cung cấp một cái nhìn tổng quan về thuốc trừ sâu được đăng ký và sử dụng ở Việt Nam, và dùng lên những loại cây trồng nào; Xác định nhà sản xuất và xuất khẩu; Phác thảo những nỗ lực trong nước để loại bỏ việc sử dụng thuốc trừ sâu cực kỳ nguy hiểm và những thách thức trong đó; Cung cấp thông tin về việc sử dụng các phương pháp thay thế, phi hóa học như sinh thái học trước đây ở Việt Nam. Báo cáo này liên quan đến các Mục tiêu Phát triển Bền vững 2, 3, 6, 8, 12, 13, 14 và 15. Special thanks to IPEN's Southeast & East Asia Regional Coordinator Lia  Esquillo and Regional Hub EcoWaste Coalition for their important  contributions to the development and finalization of the project. Article's URL: https://ipen.org/documents/highly-hazardous-pesticides-vietnam-situational-analysis.

Highly Hazardous Pesticides in Vietnam: A Situational Analysis

2

mins read

New research report by Dr. Trần Anh Thông, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute - HAPRI

Vừa qua Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe (HAPRI) cùng Quỹ đầu tư KOI Capital đã tổ chức một buổi trao đổi giữa các bạn sinh viên và  chị Sandra Vu cùng với anh Ivan Paulo về chủ đề Đầu tư tài chính trong thời kỳ Covid 19. Thông qua webinar được HAPRI và KOI đồng tổ chức, hi vọng các bạn sinh viên đã có thêm nhiều kiến thức mới cũng như hiểu thêm về KOI Capital. Để tìm kiếm những tài năng trẻ tại Việt Nam, KOI đã quyết định tổ chức một cuộc thi mang tên KOI Capital Mini Challenge với những phần quà giá trị cũng như cơ hội thực tập và làm việc tương lai tại KOI Capital. Thể lệ: Cuộc thi chỉ dành cho các bạn sinh viên đang học tại 2 trường: Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (UEH) và Đại học Ngoại Thương cơ sở thành phố Hồ Chí Minh (FTU2). Các bạn sinh viên tham gia viết bài (tối đa 2000 từ) về chủ đề "Chuyển đổi số trong ngành chăm sóc sức khỏe (Digital Transformation in Healthcare) tại Việt Nam". Giải thưởng: Giải Nhất: 3 triệu đồng tiền mặt + Giấy chứng nhận + Cơ hội thực tập và phát triển cùng KOI Capital Giải Nhì: Voucher trị giá 500K tại Bean Hop coffee + Giấy chứng nhận + Cơ hội thực tập và phát triển cùng KOI Capital Giải Ba: Giấy chứng nhận đã tham gia + Cơ hội thực tập và phát triển cùng KOI Capital Ngoài ra, những người thắng cuộc sẽ được những nhận được sự tư vấn từ các chuyên viên đầu tư của KOI khi tham gia Cuộc thi Sinh viên Tài chính FSC9. Deadline: 23h, 19/9/2020 Chi tiết cụ thể về cuộc thi tại đây

KOI Capital Mini Challenge - Cuộc Thi Tìm Kiếm Thực Tập Sinh Tài Năng

2

mins read

Vừa qua Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe (HAPRI) cùng Quỹ đầu tư KOI Capital đã tổ chức một buổi trao đổi giữa các bạn ...

New research article by Dr. Trần Anh Thông, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute - HAPRI. The article examines factors and root causes of dilemma and environmental governance challenges in the Red River Delta of Vietnam. Since the Renovation (Đổi Mới) period, there has been an accelerating growth of craft villages and industrial clusters in rural areas. While these processes contribute to creating jobs, increasing rural income, and assuaging rural–urban migration pressures, little attention is devoted to environmental effects they have caused at the village level. Drawing on case studies in the Red River Delta and desk reviews, this study suggests that rural industrialization has witnessed rapid expansion of craft villages and intense market competition among them, leading to environmental pollution and resource depletion. Although the Vietnamese government has issued directives and environmental laws to regulate and control environmental pollution, the situations remain unabated. This study calls for sound environmental policies to sustain the operation of craft villages while ensuring the effective governance of rural industrialization. Dang, T. D., & Tran, T. A. (2020). "Rural Industrialization and Environmental Governance Challenges in the Red River Delta, Vietnam." The Journal of Environment & Development. Article URL: https://journals.sagepub.com/doi/full/10.1177/1070496520942564 DOI: 10.1177/1070496520942564 ------------------------------------------------------------------- Công nghiệp hóa và Thách thức Quản lý Môi trường ở Đồng bằng sông Hồng Nghiên cứu của Tiến sĩ Trần Anh Thông, Nghiên cứu Viên Cao cấp tại Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe. Bài viết này xem xét các yếu tố và nguyên nhân gây ra những thách thức nan giải ttrong việc quản trị môi trường ở Đồng bằng sông Hồng. Kể từ thời kỳ Đổi mới, đã sự tăng trưởng nhanh chóng của các làng nghề và các cụm công nghiệp ở khu vực nông thôn. Mặc dù quá ttrinh2 này góp phần tạo ra việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn và giảm bớt áp lực di cư ở thành thị nông thôn, nhưng rất ít chú ý đến các tác động về môi trường mà chúng đã gây ra ở vùng nông thôn. Dựa trên các nghiên cứu trường hợp ở đồng bằng sông Hồng và khảo cứu tài liệu, nghiên cứu này cho thấy quá trình công nghiệp hóa nông thôn đã chứng kiến ​​sự mở rộng nhanh chóng của các làng nghề và cạnh tranh thị trường gay gắt giữa các bên, dẫn đến ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên. Mặc dù chính phủ Việt Nam đã ban hành các chỉ thị và luật môi trường để điều chỉnh và kiểm soát ô nhiễm môi trường, nhưng tình hình vẫn không suy giảm. Nghiên cứu này chỉ ra việc cần có các chính sách môi trường lành mạnh để duy trì hoạt động của các làng nghề trong khi vẫn đảm bảo quản trị hiệu quả công nghiệp hóa nông thôn.

Rural Industrialization and Environmental Governance Challenges in the Red River

2

mins read

This article examines factors and root causes of dilemma and environmental governance challenges in the Red River Delta of Vietnam.

Students Meet Enterprises (SMEs) - Series 1: KOI Capital HAPRI invites UEH students to join the webinar "Students Meet Enterprises (SMEs) - SERIES 1: 
Koi Capital - Investment Opportunities in the Age of Covid-19” This is the very first workshop of the SMEs Series organized by HAPRI to connect UEH students with domestic and international enterprises. This time, HAPRI will introduce to you KOI Capital. Koi Capital brings in 15 years of combined experience in investing, startup and system design. They have $2 million+ assets under private management. Koi Capital works along side private equity, venture capital and some of the wealthiest private investors in Australia and Philippines. KOI Capital believes good governance and technological advancement will make our world a better place. Registration Link: https://www.hapri.ueh.edu.vn/event-details/students-meet-enterprises-smes-series-1-koi-capital-investment-opportunities-in-the-age-of-covid-19/form Speakers: Content: Analyze investment risks and opportunities in the pandemic time Q&A with UEH students Announce the Mini Challenge contest to find future interns at KOI Captital Time: 7 pm, Friday August 14th, 2020 Location: Zoom: https://drexel.zoom.us/j/99517468729 Facebook live: https://www.facebook.com/hapriVN -------------------------------------------------------------------- HAPRI thân mời các bạn sinh viên tham gia webinar “Students Meet Enterprises (SMEs) - SERIES 1: 
KOI Capital - Cơ hội Đầu tư Thời Covid-19”. Đây là buổi hội thảo đầu tiên trong chuỗi SMEs Series do HAPRI tổ chức, với mong muốn kết nối sinh viên UEH với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Doanh nghiệp lần này HAPRI muốn giới thiệu với các bạn là Quỹ đầu tư tư nhân KOI Capital. Với bề dày 15 năm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, khởi nghiệp, và thiết kế hệ thống, KOI Captial hiện đang quản lý khối tài sản trị giá hơn 2 triệu USD. KOI có kinh nghiệm đầu tư các công ty niêm yết cỡ nhỏ và vừa trên thị trường chứng khoáng quốc tế. Doanh nghiệp này cũng đang đồng hành với các nhà đầu tư thành công nhất ở Úc và Phillippines. Link đăng ký: https://www.hapri.ueh.edu.vn/…/students-meet-enterpris…/form Người trình bày: Chị Sandra Vũ và anh Ivan Paulo. Chị Sandra từng là designer cho các dự án khởi nghiệp được đầu tư mạo hiểm, bao gồm Kyber Network, Liquid, và Skedulo (được tài trợ bởi Quỹ Microsoft’s Venture). Chị đang là thành viên góp vốn của KOI,  phụ trách mảng kết nối thị trường sản phẩm và nhà đầu tư. Anh Ivan trước đây là đồng sáng lập Công ty Pesabase, Four Brothers Capital và các nền tảng bán lẻ trực tuyến. Anh cũng từng là quản lý danh mục đầu tư tại Stuart Asset Management ở Úc. Hiện anh đang là Giám đốc Đầu tư (Chief Investment Officer) tại KOI. Nội dung workshop: Phân tích rủi ro và cơ hội đầu tư trong thời kỳ COVID-19 KOI Capital đối thoại với sinh viên UEH Phổ biến nội dung cuộc thi tìm kiếm intern tài năng tại KOI Captial Thời gian: 19:00 – 20h00, Thứ 6, 14.8.2020. Địa điểm: Zoom: https://drexel.zoom.us/j/99517468729 Facebook live: https://www.facebook.com/hapriVN

Students Meet Enterprises (SMEs) - SERIES 1: Koi Capital - Investment Opp. in the Age of COVID-19

2

mins read

Students Meet Enterprises (SMEs) - Series 1: KOI Capital HAPRI invites UEH students to join the webinar "Students Meet Enterprises (SMEs)...

An article by Dr. Lê Vĩnh Triển, Dr. Nguyễn Quỳnh Huy for The Saigon Times - 16/07/2020. The Industrial Revolution 4.0 values the connectivity, interaction, and development of artificial intelligence. On this ground, nations need adequate human resources available for the forthcoming intense global competition. In this context, reforming the educational model is crucial to shaping an open-minded, creative, and energetic generation, embracing innovations and challenges. In the reformation of the educational system, teachers are those that bear the most responsibility. However, educational administrators must also play a decisive supporting role and avoid the thought of considering the reform as a threat to traditional teaching. -------------------------------------------------------------------- Thúc đẩy công nghệ giáo dục đại học: Cần thay đổi nền tảng phi công nghệ TS. Lê Vĩnh Triển - TS. Nguyễn Quỳnh Huy - 16/07/2020 cho Thời báo Kinh tế Sài Gòn Cùng đứng trước cách mạng công nghiệp 4.0, các nước phát triển có nền giáo dục đại học hiện đại và khai phóng đang có một lợi thế tự nhiên vô cùng lớn so với các nước có nền giáo dục lạc hậu. Đại học Việt Nam đang ở đâu và cần phải làm gì trước cuộc chơi chung? Kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) với đặc trưng về sự kết nối, tương tác và sự phát triển của các hệ thống kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo. Các quốc gia cần phải chuẩn bị đầy đủ nguồn nhân lực để sẵn sàng thích nghi và có thể cạnh tranh trên quy mô toàn cầu. Trong bối cảnh đó, thay đổi mô hình giáo dục là cần thiết để có thể hình thành một thế hệ cởi mở, sáng tạo, chấp nhận sự đổi mới và cạnh tranh. Thay đổi để phù hợp xu hướng giáo dục nêu trên, trách nhiệm chính là của giáo viên. Tuy nhiên, các nhà quản trị giáo dục phải đóng một vai trò hỗ trợ mang tính quyết định và không coi quá trình chuyển đổi đó là mối đe dọa đối với việc dạy học truyền thống. Không thấy tên giáo dục đại học Việt Nam Với một nền kinh tế ở phân khúc thấp và giản đơn trong chuỗi giá trị của sản phẩm cung ứng toàn cầu, nhu cầu lao động bậc cao tại Việt Nam không lớn nhưng hệ thống giáo dục đại học cũng chưa thể đáp ứng thỏa đáng. Sinh viên được đào tạo trong môi trường nặng về kiến thức, thiếu sáng tạo, thiếu phản biện và thiếu kết hợp với thực tiễn đang thay đổi nhanh. Việc đào tạo lại sinh viên mới ra trường bởi nhà tuyển dụng thường phổ biến, dẫn đến hao phí nguồn lực xã hội. Về số lượng, Việt Nam có 237 trường đại học, học viện, gồm 172 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài. Ngoài ra còn có 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ; 31 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm. Còn về chất lượng, trong bảng xếp hạng của U.S. News năm 2019 có 80 nền giáo dục quốc gia. Theo đó, ở khu vực Đông Nam Á, Singapore xếp thứ 20, tiếp đó là Malaysia (44), Thái Lan (53), Philippines (55), Indonesia (56), Việt Nam (65). Riêng đối với hệ thống giáo dục đại học quốc gia, theo Quacquarelli Symonds (QS) năm 2018, có 50 hệ thống giáo dục đại học tốt nhất thế giới, trong đó khu vực Đông Nam Á có năm cái tên là Malaysia, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Philippines, nhưng không có Việt Nam. Theo Universitas 21 (Mạng lưới các trường đại học nghiên cứu toàn cầu) năm 2019, có 50 hệ thống giáo dục đại học quốc gia hàng đầu thế giới. Việt Nam cũng không có tên trong danh sách này, nhưng Đông Nam Á vẫn có Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia. Báo cáo “Sự sẵn sàng cho nền sản xuất tương lai” của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) năm 2018 chỉ ra rằng, Việt Nam xếp thứ 75/100 về chất lượng đào tạo đại học. Với những kết quả xếp hạng, đánh giá trên đây của các tổ chức có uy tín trên thế giới, có thể khẳng định vị trí xếp hạng thế giới của hệ thống giáo dục Việt Nam còn thấp. Các nhà giáo dục và các chuyên gia đánh giá có nhiều lý do cho sự yếu kém về chất lượng của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, có thể nêu ra như sau: Thiếu một triết lý giáo dục mà từ đó thiếu định hướng, thiếu quyết tâm và ý thức về sứ mạng của đại học như chìa khóa của việc canh tân đất nước. Từ đó, thiếu hiểu biết và lúng túng trong việc tổ chức một đại học nghiên cứu hiện đại với những đòn bẩy như chế độ trọng đãi nhân tài. Tinh thần tự do trong học thuật và phát triển con người khai phóng chưa được xem như điều kiện để phát huy năng lực của nguồn nhân lực trong môi trường đại học. Thiếu chính sách đầu tư tổng thể cho việc phát triển các đại học như một nền tảng cho sự dẫn dắt phát triển quốc gia. Việc quản lý các đại học còn mang nặng tính hành chính, chính trị và lúng túng trong việc tách bạch giữa đại học và các trường cao đẳng, trung cấp nghề. Đại học dân lập, đại học tư phát triển quá mở rộng và thiếu quy hoạch, chất lượng giảng viên lẫn đầu vào sinh viên mang tính đại trà và không có chiến lược để đầu tư xây dựng các đại học ưu tú. Từ đó việc nghiên cứu hàn lâm ở đẳng cấp quốc tế chưa được xem như một nhu cầu tồn tại và danh dự của đại học. Cơ chế quản lý giáo dục đại học còn nhiều bất cập. Quyền tự chủ của các trường đại học về chuyên môn còn hạn chế. Mặc dù đã có nhiều chủ trương chính sách để các trường đại học triển khai thực hiện tự chủ, nhưng đến nay những nội dung thực tế đảm bảo cho các trường thực hiện quyền tự chủ chưa được quán triệt (xác định các ngành, chuyên ngành đào tạo; xác định các chương trình đào tạo; xác định hình thức tổ chức đào tạo; xác định phương pháp giảng dạy; xác định phương pháp đánh giá các học phần; xác định thời gian đào tạo, vấn đề quản lý tài chính là những tiêu thức được coi là quyền tự chủ cao trong tất cả các hệ và hình thức đào tạo). Câu hỏi đặt ra là với trình độ phát triển của hệ thống giáo dục đại học hiện nay, Việt Nam liệu có thể thích ứng, tận dụng CMCN 4.0 trong giáo dục để vừa giải quyết các vấn đề hiện tại của chính mình, vừa hội nhập vào guồng với các nền đại học phát triển (nhiệm vụ kép) hay không? Những gợi ý thay đổi Có thể nói, không khó đáp ứng các điều kiện về mặt kỹ thuật công nghệ, trí tuệ nhân tạo, và mạng xã hội. Tuy vậy, với các quốc gia phát triển mà ở đó giáo dục đại học là tự chủ và tôn trọng tự do học thuật - nền tảng để đào tạo những con người khai phóng, nhân văn có tư duy phản biện, thì CMCN 4.0 xảy ra như một chất xúc tác để họ càng thành công hơn trong việc tiếp tục tạo ra những nguồn nhân lực như vậy. Cho nên, đối với Việt Nam, thiết nghĩ lãnh đạo hệ thống giáo dục và quản lý các trường đại học cần có những thay đổi nền tảng phi công nghệ khi bàn đến chuyện thúc đẩy công nghệ giáo dục 4.0, bao gồm: Thay đổi tầm nhìn của lãnh đạo hệ thống giáo dục và những nhà quản lý đại học, theo đó kế thừa và phát huy tinh thần tự do của giáo dục đại học. Đại học cần hơn sự độc lập, lãnh đạo đại học cần phải là những người có tư duy độc lập, trên nền tảng của tri thức nhân loại, thúc đẩy văn hóa sáng tạo tri thức mới. Tinh thần này lan tỏa trong cộng đồng, trong tổ chức đại học, từ đó trí thức, giảng viên triển khai các tầm nhìn vượt khỏi giới hạn của định kiến, của tư duy cục bộ và nhiệm kỳ, vượt giới hạn của chính những tri thức sẵn có (kế thừa và phát triển chứ không lệ thuộc) thực hiện đúng thiên chức hướng thượng và khai sáng của đại học. Triết học cần được quan niệm đúng và đưa vào đại học với sự cởi mở và đa chiều, từ đó giải thích và sáng tạo tri thức mới, không rập khuôn và nhân văn hơn. Nhà nước cần mạnh mẽ ủng hộ tự do học thuật cũng như sự độc lập của đại học. Các nghiên cứu cho thấy khi tự do học thuật được tôn trọng, đại học càng ít lệ thuộc trong đổi mới sáng tạo, càng tạo ra được những con người tốt nhất cho đất nước và cho chính bộ máy quản trị công của Nhà nước. Thực hiện tự chủ tài chính ở các trường đại học phải được hiểu và triển khai đầy đủ trong mối quan hệ xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các trường với xã hội. Các trường cần được trao không gian tự chủ đầy đủ, từ xây dựng và phát triển chương trình, nghiên cứu và đào tạo, và các vấn đề quản trị nội bộ, trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung vào công tác quản lý nhà nước, chứ không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của các trường. Thúc đẩy kết hợp học truyền thống và học tập sử dụng công nghệ trực tuyến (Blended Learning) để kết hợp thế mạnh của từng phương pháp và qua đó nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giảng dạy và học tập. CMCN 4.0 đã thay đổi cách nghĩ về giáo dục. Những thay đổi được thực hiện không chỉ về cách thức giảng dạy, mà cần thiết hơn nhiều là sự thay đổi trong quan điểm của chính khái niệm giáo dục. Quyết tâm thì đã có, nền tảng kỹ thuật công nghệ cũng không khó hình thành, tầm nhìn của các nhà quản lý đại học sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam bước vào CMCN 4.0 thành công. Tiến sĩ Lê Vĩnh Triển và Tiến sĩ Nguyễn Quỳnh Huy - Viện Nghiên cứu Chính Sách Nông nghiệp & Sức Khỏe, Trường ĐH Kinh tế TP. HCM Bài viết gốc: https://www.thesaigontimes.vn/305944/thuc-day-cong-nghe-giao-duc-dai-hoc-can-thay-doi-nen-tang-phi-cong-nghe.

Promoting higher education technology: A need for non-technological reform

7

mins read

In the reformation of the educational system, teachers are those that bear the most responsibility.

 
Students Meet Enterprises (SMEs) - Series 1: KOI Capital - Investment Opportunities in the Age of Covid-19
Zoom Webinar
HAPRI's Launch Event
Room A.103
Seminar on Economic Research: "Does trade liberalization always have positive effects on household welfare in Vietnam?"
Meeting room 10.01
Opening Ceremony
Room 10.02, Floor 10
Fulbright Scholarship Information Session
Room A103
 
 
ueh-sub-logo.png

Follow us

  • Facebook Link
  • LinkedIn Round
  • Instagram
  • YouTube

©2020 by HAPRI

Viện Nghiên cứu Chính sách Sức khỏe và Nông nghiệp - Health & Agricultural Research Policy Institute,

Trường Đại học Kinh tế TPHCM - University of Economics Ho Chi Minh City