Welcome

“The soil is the great connector of lives, the source, and destination of all. It is the healer and restorer and resurrector, by which disease passes into health, age into youth, death into life. Without proper care for it, we can have no community because without proper care for it, we can have no life.”
Wendell Berry, The Unsettling of America: Culture and Agriculture

 
An article by Dr. Lê Vĩnh Triển, Dr. Nguyễn Quỳnh Huy and Dr. Võ Tất Thắng for The Saigon Times - 21/05/2020. In the previous article (Looking at ourselves and identifying challenges), the authors analyzed some of the shortcomings in the economic growth policy that the Covid-19 epidemic has made its flaws even more pronounced. This article focuses on identifying future development possibilities, important socio-economic goals, and strategic options needed for the country to take advantage of the current opportunities and overcome future challenges. -------------------------------------------------------------------- TS. Lê Vĩnh Triển - TS. Nguyễn Quỳnh Huy - TS. Võ Tất Thắng - 21/5/2020 cho Thời báo Kinh tế Sài Gòn Trong bài trước (Đánh giá bản thân, nhận ra tồn tại), nhóm tác giả đã phân tích một số bất cập trong chính sách tăng trưởng kinh tế mà dịch Covid-19 đã làm cho nó bộc lộ càng rõ nét hơn. Nội dung của phần này tập trung vào xác định các khả năng phát triển trong tương lai, các mục tiêu kinh tế - xã hội quan trọng, những lựa chọn chiến lược cần thiết để đất nước có thể tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức. Xu hướng phi toàn cầu hóa Đại dịch Covid-19 đã đặt ra nhiều câu hỏi về sự ưu việt của toàn cầu hóa, chuỗi giá trị và phân công lao động quốc tế, nhất là phụ thuộc vào một quốc gia như Trung Quốc. Dù còn nhiều diễn biến chưa thể biết trước, nhưng nền kinh tế thế giới hậu dịch Covid-19 chắc chắn sẽ không thể lặp lại cơ cấu như trước đó. Vai trò của công nghệ thông tin, thương mại điện tử sẽ phát triển nhảy vọt với những hình thức thanh toán, các hợp đồng điện tử xuyên biên giới. Sự dịch chuyển mạnh mẽ hệ thống thương mại và đầu tư, nhất là đa dạng hóa các nguồn cung sẽ diễn ra. Tất cả những điều này cần được phản ánh trong chiến lược và chính sách trong giai đoạn tới của Việt Nam. Vấn đề quan trọng đối với mỗi quốc gia là khôi phục kinh tế hậu dịch, nhưng việc này với nhiều nước, trong đó có Việt Nam, khó khăn hơn rất nhiều khi lệ thuộc quá nhiều vào thị trường và nguồn cung ứng của Trung Quốc, kết quả của quá trình dài theo đuổi toàn cầu hóa. Do vậy, việc giảm bớt lệ thuộc vào Trung Quốc và gia tăng tính tự cường của kinh tế quốc gia sẽ là xu hướng và là việc phải được tính đến và quyết tâm thực hiện bởi cả hệ thống chính trị, thậm chí phải chấp nhận chi phí đắt đỏ hơn. Các nước sẽ đánh giá lại các chính sách kinh tế là điều dễ nhận thấy, và đây là cơ hội để Việt Nam xem lại chính sách tăng trưởng, từ đó cải thiện chất lượng đầu tư nước ngoài (FDI), cải cách thể chế theo hướng tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, từ đó nâng cao năng suất lao động và giảm lệ thuộc vào khai thác tài nguyên hủy hoại môi trường, giảm lệ thuộc triền miên vào chính sách lao động rẻ. Khi thực hiện được những điều này sẽ hạn chế các khuyết tật về môi trường và tham nhũng chính sách, cũng như xử lý tốt hơn các vấn đề xã hội và phúc lợi. Quan tâm nhiều hơn đến các thành phần yếu thế, người nghèo Các nước, và Việt Nam càng không thể là ngoại lệ, phải quan tâm nhiều hơn đến sự an bình và phúc lợi của người dân. Tác động từ đại dịch cho thấy thành phần thu nhập thấp, các nhóm dễ bị tổn thương bị thiệt thòi nhiều nhất. Cần phải thừa nhận người lao động trong các khu công nghiệp hay người lao động di cư trong các thành phần kinh tế phi chính thức cũng là thành phần rất dễ bị tổn thương trước các cú sốc dịch bệnh và kinh tế. Các nước nghèo như Việt Nam, vốn đã thiếu nguồn lực để đảm bảo cho thành phần kinh tế lớp dưới, phải có những thay đổi trong quy định về mối quan hệ quyền lợi và trách nhiệm giữa doanh nghiệp và người lao động để đảm bảo xử lý tốt những vấn đề xã hội nêu trên. Các ràng buộc mới có thể khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại vì tăng chi phí, nhưng đó là một trong những cách đi tới một xã hội phát triển nhân văn. Như vậy, hệ thống chính sách để hỗ trợ người lao động, người dễ bị tổn thương trước các cú sốc lớn do tác động của dịch bệnh hay thiên tai nên là quan tâm chính của Nhà nước. Thay vì chạy theo tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá (hệ lụy là tham những hoành hành, môi trường bị tàn phá, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, lệ thuộc nước ngoài - đặc biệt là Trung Quốc), Nhà nước cần ưu tiên cải cách thể chế theo hướng hiệu quả, hiệu lực và công bằng thay vì đầu tư nhiều tiền của cho khu vực công rộng lớn, cho các doanh nghiệp của Nhà nước, trong khi lại thiếu các bệ đỡ để hỗ trợ người khó khăn. Kinh tế và y tế, bất cập của bài toán lợi ích - chi phí và vai trò của quản trị công Kinh tế và y tế cũng không hiệu quả nếu thiếu vai trò quản trị công; khẳng định nguyên tắc “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”: Bài toán đầu tư hiện đại hóa hệ thống y tế và chi phí dành cho nó trong cân đối lợi ích và chi phí xem ra chỉ có ý nghĩa tương đối khi đại dịch như dịch Covid-19 xảy ra. Các nước dù rất giàu, có hệ thống y tế hùng mạnh, cũng không thể đầu tư đầy đủ, sẵn có cho mọi người vì đó là bài toán bất khả thi về chi phí. Các nước nghèo hơn nếu có hệ thống cảnh báo, tự cảnh báo sớm hơn vẫn có thể kiểm soát dịch bệnh tốt hơn với ít chi phí hơn. Điều đó cho thấy vai trò không thể thiếu của một hệ thống quản trị công linh hoạt và kỷ luật, công khai, minh bạch và tạo được sự đồng thuận giữa chính quyền và người dân. Việt Nam sẽ đầu tư và nâng cấp khả năng phòng chống dịch bệnh như thế nào không còn là công việc mang tính ngắn hạn và địa phương, mà rõ ràng sẽ trở thành một chương trình tổng thể, dài hạn và quốc gia. Chính sách đầu tư cho thiết bị y tế, dược phẩm, sinh học dịch tễ, phát triển đầy đủ hệ thống y tế dự phòng và y tế tuyến cơ sở, giảm bất bình đẳng về chăm sóc y tế, nhất là về chất lượng khám và khả năng chi trả, và mở rộng nguồn lực cho hệ thống y tế chắc chắn phải được quan tâm hơn trong các chiến lược về kinh tế và phát triển. Công nghệ và trí tuệ nhân tạo Đại dịch Covid-19 chắc chắn làm sâu sắc và phổ biến hơn việc ứng dụng công nghệ trong giao tiếp và trong đời sống kinh tế, văn hóa và chính trị các quốc gia. Về mặt kinh tế, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo chắc chắn sẽ là lĩnh vực cạnh tranh mới khốc liệt hơn của các quốc gia và điều này càng củng cố hơn thế mạnh vốn có của các nước phát triển. Việt Nam cần có những thay đổi và chiến lược thích ứng như thế nào để không bị bỏ lại phía sau, trong khi sở hữu một lực lượng lao động công nghệ đang làm thuê cho các hãng công nghệ nước ngoài với giá rẻ. Về văn hóa, chính trị, cách thức ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong giao tiếp và trong quản lý xã hội chắc chắn sẽ phản ánh mức độ văn minh và tôn trọng người dân của từng quốc gia cũng như phản ánh mức độ công khai, minh bạch của hệ thống quản trị công. Nông nghiệp và an ninh lương thực Đại dịch Covid-19 cũng đã cho thấy xu hướng toàn cầu hóa sẽ bị đảo ngược, từ đó quốc gia nào tự lực được về lương thực sẽ giảm lệ thuộc vào các quốc gia khác. Nông nghiệp với trách nhiệm đảm bảo an toàn lương thực và trong tinh thần tự lực tự cường kinh tế sẽ nổi lên như một mặt trận quan trọng. Việt Nam là nước nông nghiệp có thể xuất khẩu nông sản, đặc biệt là gạo, nên xem lại chính sách sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp trong tình hình mới nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng như lợi thế trong quan hệ quốc tế. Biến đổi khí hậu và việc Trung Quốc xây dựng các đập thủy điện tràn lan trên thượng lưu sông Mêkông là hai yếu tố đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng đất đai nông nghiệp và đời sống của hơn 20 triệu người dân Việt Nam. Việt Nam cần tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, đấu tranh mạnh mẽ hơn với Trung Quốc để bảo vệ đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời có chiến lược nông nghiệp thích nghi với biến đổi khí hậu và cả với chính sách phát triển thủy điện thiếu trách nhiệm của Trung Quốc. Ý thức hệ về sinh mạng con người Đại dịch Covid-19 có thể làm cho cuộc tranh luận về ý thức hệ bớt đi ý nghĩa. Mức độ nghiêm trọng của đại dịch khiến các nước thu về cố thủ, lấy quốc gia dân tộc làm trọng, và lấy sự an toàn và hạnh phúc của người dân là thước đo thành công. Các quốc gia dù lớn nhỏ cũng không thể nhân danh sông núi gần nhau, lý tưởng chính trị hay văn hóa tương đồng để áp đặt việc giao thương hàng hóa hay việc đóng cửa biên giới của quốc gia khi vận mệnh của người dân nước khác bị đe dọa. Ý thức hệ về sinh mạng và hạnh phúc con người sẽ là ý thức hệ xứng đáng được các quốc gia theo đuổi. Quyền lợi dân tộc và quốc gia tự khắc được đặt lên hàng đầu. Công khai, minh bạch và giải trình - chìa khóa của thành công Cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 đã làm tăng uy tín Việt Nam trên trường quốc tế, sự công khai và minh bạch cũng như sự giải trình, cung cấp thông tin liên tục cho người dân đã trở thành thương hiệu cho Việt Nam. Bên cạnh đó, lòng tin và sự hợp tác của người dân cũng phải được nhắc đến như một yếu tố quan trọng. Có thể thấy, chính nguyên tắc công khai, minh bạch và giải trình của chính quyền trong chống dịch có tính quyết định cho sự hợp tác, kỷ luật và lòng tin của người dân vào chính quyền. Lòng tin và sự hợp tác, kỷ luật của người dân luôn là tài sản vô cùng quý giá để quốc gia chiến thắng trong một cuộc chiến một khi chính quyền khai thác đúng. Chúng ta có thể tin rằng để giải quyết các tồn tại trong kinh tế và phát triển đã nêu trên, chính quyền cần tiếp tục khai thác tài sản quý giá này và không cách nào khác hơn là tiếp tục phát huy công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình sẽ hỗ trợ tốt hơn cho các mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững và chất lượng hơn theo nghĩa hạn chế tham nhũng, hạn chế tác hại đến môi trường sống, giảm lệ thuộc vào FDI kém chất lượng, tăng cường FDI chất lượng cao. Công khai, minh bạch và giải trình sẽ góp phần tạo lập môi trường kinh doanh đạo đức, bình đẳng và hiệu quả, thúc đẩy đầu tư và chia sẻ lợi ích của các nguồn vốn trong nước, hạn chế sự lệ thuộc vào yếu tố nước ngoài, hướng tới tự cường kinh tế. Bên cạnh đó, nó cũng giúp cải thiện chất lượng nhân sự của hệ thống, tạo môi trường công bằng kích thích người tài tham gia làm việc trong khu vực công nói riêng và các nguồn lực xã hội khác hiệu quả hơn; thúc đẩy quá trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính mau chóng và hiệu quả. Nguyên tắc công khai, minh bạch phải được mở rộng trong mọi lĩnh vực của quản trị nhà nước để càng làm tăng lòng tin giữa dân và chính quyền từ đó đất nước sẽ thực hiện được những khát vọng độc lập và tự cường. Tạo sự khác biệt hay chinh phục thị trường bằng sự khác biệt là một nguyên tắc dẫn dắt thành công của các doanh nghiệp. Quốc gia cũng vậy, Việt Nam đã tạo được sự khác biệt trong cuộc đại chiến Covid-19. Đây là cơ hội để chúng ta bước tiếp tạo ra sự khác biệt bằng việc củng cố và xây dựng một nền văn hóa tự trọng, tôn trọng sự thật, con người hành xử văn minh và nhân văn. Từ đó hình thành một nền kinh tế thị trường lấy sự trung thực, sáng tạo và uy tín làm nguyên tắc hành xử; hình thành một nền giáo dục nhân bản và khai phóng; một nền chính trị công bằng lấy hạnh phúc của mọi tầng lớp nhân dân làm mục tiêu, lấy lợi ích dài hạn của dân tộc và danh dự quốc gia làm trọng. Có thể không quá lời, sự tự trọng và khiêm tốn quốc gia và sẵn sàng gánh vác các trách nhiệm quốc tế có lẽ nên được xem xét cẩn trọng như nền tảng để chúng ta vươn lên, chinh phục nhân tâm và thoát nghèo. Tiến sĩ Lê Vĩnh Triển, Tiến sĩ Nguyễn Quỳnh Huy và Tiến sĩ Võ Tất Thắng Viện Nghiên cứu Chính Sách Nông nghiệp & Sức Khỏe, Trường ĐH Kinh tế TP. HCM Bài viết gốc: https://www.thesaigontimes.vn/303761/co-hoi-da-mo-ra-va-viet-nam-don-nhan-the-nao-.html

Opportunity has opened, how Vietnam will grasp? - Cơ hội đã mở ra và Việt Nam đón nhận thế nào?

9

mins read

An article by Dr. Lê Vĩnh Triển, Dr. Nguyễn Quỳnh Huy and Dr. Võ Tất Thắng for The Saigon Times - 21/05/2020. In the previous article (Looking at ourselves a...

Since the beginning of the COVID-19 pandemic in early January, Health and Agricultural Policy Research Institute - HAPRI has been collecting the virus progression in South East Asia and working with HERE Technologies,  a leading multinational company in mapping and GPS navigation, to  contribute to their COVID-19 Interactive Tracker Map project to track  the pandemic situation around the world. Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe hợp tác HERE Technologies trong việc cung cấp dữ liệu theo dõi COVID-19 tại Đông Nam Á. Kể từ khi COVID-19 xuất hiện tại Việt Nam vào cuối tháng 1, 2020, đội ngũ của Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe (Health and Agricultural Policy Research Institute - HAPRI) đã và đang liên tục thu thập thông tin và dữ liệu về những ca nhiễm mới không chỉ cho Việt Nam mà còn của các nước ở khu vực Đông Nam Á. Song song với đó, HAPRI cũng hợp tác với Công ty HERE Technologies trong dự án phát triển bản đồ theo dõi COVID-19 trên toàn thế giới (COVID-19 Interactive Tracker Map). HERE Technologies là một công ty đa quốc gia về GPS và Mapping có trụ sở chính tại Hà Lan (từng là công ty con của Nokia và Microsoft, hiện nay do Volkswagen, BMW, Daimler, Intel, Mitsubishi và Nippon nắm đều quyền sở hữu). Kết quả là dữ liệu về các ca nhiễm, phục hồi và tử vong do COVID-19 ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và Philippines đến cấp địa phương do HAPRI tổng hợp đã được HERE Technologies trình bày tại https://app.developer.here.com/coronavirus/. Dữ liệu cho các ca được xác nhận (màu vàng) và các ca tử vong (màu đen) được hiển thị dưới dạng vòng tròn đồng tâm cho tất cả các quốc gia và ở cấp địa phương nếu có. Ở bảng điều khiển bên trái, người dùng có thể chọn một quốc gia từ menu thả xuống, xem tổng số ca nhiễm và tử vong được xác nhận toàn cầu, cũng như xem các ca nhiễm mới và tử vong mới hằng ngày. Trên bản đồ, khi chọn vào một quốc gia để xem, số ca nhiễm và tử vong cũng được thể hiện theo vị trí địa lý địa phương. Các nhà nghiên cứu hoặc người có nhu cầu sử dụng số liệu có thể liên hệ trực tiếp với HAPRI qua email HAPRI@ueh.edu.vn hoặc DinhNX@ueh.edu.vn (anh Nguyễn Xuân Định) để được tư vấn rõ hơn. Thông tin chi tiết về HAPRI tại: https://www.hapri.ueh.edu.vn/ Article in English: https://www.facebook.com/hapriVN/posts/161350185385713 Article in the Press: https://www.ueh.edu.vn/tin-tuc/vien-nghien-cuu-chinh-sach-nong-nghiep-va-suc-khoe-hapri-ueh-hop-tac-du-lieu-voi-here-technologies-trong-cuoc-chien-chong-lai-covid-19_55696

Hợp tác dữ liệu trong cuộc chiến chống lại COVID-19 - Data sharing cooperation against COVID-19

2

mins read

Since the beginning of the COVID-19 pandemic in early January, Health and Agricultural Policy Research Institute - HAPRI has been collecting the virus progre...

"Resource Governance, Agriculture, and Sustainable Livelihoods in the Lower Mekong Basin" Edited by Lê Việt Phú, Nguyễn Văn Giáp, Lê Thị Quỳnh Trâm, Chu Thái Hoành and Malcolm McPherson. Natural resources and ecosystem services have been seriously undervalued in development planning in the Lower Mekong Basin (LMB), which spans Cambodia, Laos, Thailand, and Vietnam. Intensive agriculture has initially led to higher yields, a lower poverty rate, and economic growth. However, it is destroying the very resources it needs, such as water. The excessive use of chemical fertilizers and pesticides has contaminated soils and threatened critical inland fisheries. Significant coastal erosion, soil salinity, and deteriorating marine ecosystems and climate change add to an urgent need to take into account the value of ecosystem resources to improve policy-making. This volume presents up-to-date case studies and surveys trends and challenges for natural resource-based livelihoods by researchers and institutes collaborating across the LMB under the Lower Mekong Public Policy Initiative (LMPPI). The Lower Mekong Public Policy Initiative is a four-year project, funded by the United States Agency for International Development - USAID. LMPPI is housed at the Fulbright Economics Teaching Program - FETP, a center for public policy teaching, research and policy dialogue in Vietnam, and is jointly managed by FETP (now the Fulbright School of Public Policy and Management at Fulbright University Vietnam) and the Vietnam Program of Harvard Kennedy School’s Ash Center for Democratic Governance and Innovation in the United States. LMPPI seeks to generate knowledge, promote learning, and stimulate dialogue on public policies to support environmentally sustainable economic development, increase agricultural productivity, and improve household livelihoods in the five countries of the Lower Mekong Basin: Cambodia, Laos, Myanmar, Thailand and Vietnam. LMPPI has built an extensive network with research institutions, government agencies, and various stakeholders in the region for cross-disciplinary research on key topics in sustainable development related to climate change, resource competition, and regional economic integration. LMPPI has contributed to capacity building of our research partners throughout the implementation of the research project. Besides, LMPPI personnel also contributed to the teaching and study of policy challenges associated with sustainable development and natural resources management at the Fulbright School. As a result of these efforts, eight research projects were completed during the span of the initiative, plus two dozen master’s theses by MPP students at the School. LMPPI research activities are geographically and thematically diverse. LMPPI researchers and partners have successfully conducted research on sensitive areas such as hydro-power in Lao PDR, agricultural policies in Cambodia, and cross-border livelihoods in Thailand, Lao PDR and Vietnam (Map 1). In the Mekong River Delta of Vietnam, the most vulnerable part of the region, we have closely worked with universities, research institutes, and local governments to examine the numerous challenges in agricultural and environmental policies and opportunities for a sustainable future. Empirical findings, situational analyses, and public policy recommendations from these studies are presented in this volume in three parts: the environment, agriculture, and livelihoods. Resource Governance, Agriculture and Sustainable Livelihoods in the Lower Mekong Basin / edited by: Lê Việt Phú, Nguyễn Văn Giáp, Lê Thị Quỳnh Trâm, Chu Thái Hoành and Malcolm McPherson. ISBN 978-967-2165-73-6. Paper-back version can be purchased here. Dr. Nguyễn Văn Giáp is an editor of this book, he is serving as a Vice Director of Health and Agricultural  Policy Research Institute - HAPRI.

New Book: "Resource Governance, Agriculture, and Sustainable Livelihoods in the Lower Mekong Basin"

3

mins read

"Resource Governance, Agriculture, and Sustainable Livelihoods in the Lower Mekong Basin" Edited by Lê Việt Phú, Nguyễn Văn Giáp, Lê Thị Quỳnh Trâm, Chu Thái...

By Adam Taylor - April 30, 2020 at 11:00 a.m. GMT+7 for The Washington Post The United States passed a tragic milestone this week in its novel coronavirus outbreak. Less  than three months after the first case was confirmed on U.S. soil, more  lives have now been lost in the United States from the pandemic than  the 58,220 Americans who died over nearly two decades of fighting during  the Vietnam War. Coincidentally, the fall of Saigon 45 years ago this Thursday  ended that conflict. But despite these milestones, in Vietnam many are  focused on a very different marker: According to official figures, the  country has recorded no new cases of domestic transmission of  coronavirus in almost two weeks. Despite  its border with China, relatively low income, and population of 95  million, Vietnam is an outlier success story in the pandemic. It has 270  confirmed cases of the virus and no deaths. The country is beginning to  lift the strict lockdown measures it began imposing in February,  reopening restaurants and barber shops last week. Vietnam has “basically put the pandemic under control,” Prime Minister Nguyen Xuan Phuc  said Tuesday. But this effective control has yet to be greeted with the  global plaudits that many other nations have received, perhaps because  Vietnam does not fit neatly with other success stories. This  is not a country known for its technology, like South Korea and Taiwan,  and it is not a small, easily controllable space like Hong Kong or  Iceland. It doesn’t have the charismatic leadership of New Zealand’s Jacinda Ardern, Germany’s Angela Merkel or other female world leaders. And it’s not liberal or democratic like other widely praised nations.  Forty-five years after the war’s end, Vietnam remains a developing  Communist nation, led by a coterie of middle-aged men. So what explains Vietnam’s coronavirus success? Robyn Klingler-Vidra from King’s College London and Ba-Linh Tran of the University of Bath have identified  three key tactics used widely by the government: temperature screening  and testing, targeted lockdowns and constant communication. Plenty  of countries test, of course, and Vietnam’s raw number of tests  administered is far less than many other nations: The United States has  conducted more than 5 million tests, whereas Vietnam has conducted only  200,000. However, when you consider tests per confirmed case, Vietnam is  an outlier. Vietnam began testing early, ramping up domestic production of tests  after the first cases of the coronavirus in the country were discovered  in three travelers returning from Wuhan in January. It then undertook  extensive contact tracing, with strict quarantine at government-run  facilities for those suspected of having the virus. The  government has used text messaging and apps to communicate with citizens  during the crisis, and the government publishes extensive amounts of  data and information about the outbreak on the Health Ministry’s website, a surprising move in a country known for its extensive restrictions on media freedom. Questions  remain about whether data from an autocratic nation such as Vietnam is  reliable, or if the lower level of tests overall mean there are missing  cases, but some U.S. health experts have said they trust the figures. Vietnam was also hit by severe acute respiratory syndrome in 2003, but became internationally praised for being the first country to stop local transmission. It’s  possible that being an authoritarian state helped it understand the  early days of the outbreak. Trien Vinh Le and Huy Quynh Nguyen of the  University of Economics in Ho Chi Minh City argue in the Diplomat that  Vietnam effectively learned from the mistakes of China’s too-secretive response to the outbreak. Cybersecurity firm FireEye also claims that hackers linked to the  Vietnamese government tried to access emails of China’s Ministry of  Emergency Management and the government of Wuhan — an accusation that  Vietnam’s Foreign Ministry denies. Memories of the war linger in Vietnam and in the United States. Nguyen has compared Vietnam’s coronavirus fight to the “spring general offensive of 2020” — what veteran Vietnam watcher George Black calls an “obvious echo” of the Tet Offensive against the United States and its Vietnamese allies in 1968. But the countries are no longer enemies; they normalized relations in 1995 and polls show that the United States is viewed favorably in Vietnam.  If Vietnam is able to avoid a more destructive second wave of  infections — no easy feat, to be sure — the country will probably grow  closer to America. n early April, President Trump thanked “our friends in Vietnam” for 450,000 made-in-Vietnam DuPont hazmat suits, part of a global wave of coronavirus diplomacy. Businesses were already moving to Vietnam to offset their reliance on China, a move the country hopes could be extended into an economic rebound. The United  States may want to turn to its old foe for advice, though it may not  like what it hears: Vietnam’s success is largely linked to key decisions  in the early part of this year, a period in which the United States was  still in its phase of “magical thinking.” That’s  not time that the United States can get back, but the fight isn’t over  for anyone. “We should not forget that we have only won individual  battles, not the whole war,” Vietnam’s Deputy Prime Minister Vu Duc Dam  said last week. Original article: https://www.washingtonpost.com/world/2020/04/30/vietnam-offers-tough-lessons-us-coronavirus/

Vietnam offers tough lessons for U.S. on coronavirus

4

mins read

By Adam Taylor - April 30, 2020 at 11:00 a.m. GMT+7 for The Washington Post The United States passed a tragic milestone this week in its novel coronavirus ou...

An article by Dr. Lê Vĩnh Triển, Dr. Nguyễn Quỳnh Huy and Dr. Võ Tất Thắng for The Saigon Times - 14/05/2020. The influence of the epidemic may change the political position of  countries on the international map. With Vietnam, there are two problems  arise: 1/ How to solve the economic consequences of the pandemic, and 2/ How to handle the economic problems and development policies that Covid-19 has revealed? -------------------------------------------------------------------- TS. Lê Vĩnh Triển - TS. Nguyễn Quỳnh Huy - TS. Võ Tất Thắng - Thứ Năm,  14/5/2020, 09:33 cho Thời báo Kinh tế Sài Gòn Ảnh  hưởng của dịch bệnh có thể sẽ thay đổi vị trí của các quốc gia trên bản  đồ quốc tế. Với Việt Nam, có hai vấn đề được đặt ra: giải quyết ra sao  hậu quả kinh tế của đại dịch, và xử lý thế nào các tồn tại trong kinh tế  và các chính sách phát triển mà dịch Covid-19 đã làm lộ diện? Và, Việt Nam nên tiếp tục phát huy các yếu tố/ưu điểm trong chiến thắng đại dịch như thế nào cho phát triển trong tương lai? Sự thay đổi là cần thiết để giúp quốc gia  vượt qua thách thức. Tuy nhiên, các thay đổi này cần dựa trên các  nguyên tắc là nền tảng văn hóa gắn với tự cường; tự do và tự trọng; công  khai, minh bạch và ngăn chặn tham nhũng, bất công xã hội. Với cách đặt  vấn đề đó, các tác giả đánh giá lại sự phát triển của đất nước, nhận  diện các tồn tại của nền kinh tế từ dịch bệnh, để từ đó định hướng về  những điều cần thay đổi vì mục tiêu phát triển bền vững cho Việt Nam sau  đại dịch. Sự chống đỡ và khả năng phục hồi tùy thuộc vào thực lực của một nền  kinh tế, được thể hiện ở hai khía cạnh: cơ cấu kinh tế và sự phụ thuộc  của nền kinh tế đó vào hệ thống kinh tế toàn cầu. Trong khi đó, hệ thống  quản trị công của quốc gia sẽ là nền tảng cho quá trình chống đỡ và  phục hồi nêu trên. Trước mắt, dịch Covid 19 đã làm bộc lộ các tồn tại  sau: Chính sách tăng trưởng nhanh và những thành phần dễ bị tổn thương Có thể nói, chính sách tập trung cho tăng trưởng kinh tế trong điều  kiện toàn cầu hóa ngày một gia tăng (cho đến trước đại dịch) và cơ cấu  kinh tế ở Việt Nam có quan hệ hữu cơ với nhau. Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn ở mức độ thâm dụng lao động cao và lệ  thuộc vào vốn và cả công nghệ (đầu tư) từ nước ngoài. Tuy đã có nhiều  cải thiện về mặt thể chế, nhưng việc tập trung cho tăng trưởng nhanh  thông qua ưu tiên thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước đã khiến các  chính sách ít thể hiện sự quan tâm đến bình đẳng lợi ích của các bên  liên quan, đặc biệt là đời sống của nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong  xã hội. Giới chủ doanh nghiệp chưa bị ràng buộc bởi các trách nhiệm xã  hội cụ thể với người lao động. Hiệu quả kinh tế thường phải đánh đổi với sự công bằng trong việc tiếp  cận và phân chia lợi ích. Cho nên nếu tiếp tục chọn tăng trưởng nhanh  thì nhất thiết phải đánh giá lại sự công bằng của quá trình phân chia  lợi ích, bao gồm cả những thất thoát của chính tăng trưởng do tham nhũng  và tàn phá tài nguyên, nguồn lực của đất nước gây ra. Một cú sốc như đại dịch Covid-19 chắc chắn làm gãy đổ các mối liên kết  kinh tế và tác động lâu dài lên tất cả các đối tượng trong nền kinh tế.  Nghịch lý là các đối tượng dễ tổn thương thường không nhận được nhiều  lợi ích từ chính sách tăng trưởng nhanh như lâu nay, nhưng lại phải chịu  ảnh hưởng tiêu cực lớn hơn khi có cú sốc. Khó khăn của doanh nghiệp Bản thân các doanh nghiệp cũng phải gánh rất nhiều loại chi phí do thể  chế bất cập cũng như do yếu kém trong việc thực thi các chính sách nhà  nước. Chủ trương luôn có, pháp luật vẫn hiện diện nhưng việc thực thi là  vấn đề của các nước đang phát triển và của cả Việt Nam. Hậu quả là sản  phẩm của doanh nghiệp Việt Nam phải gánh nhiều loại chi phí ngoài sản  xuất. Hệ thống thể chế dù đã nỗ lực đổi mới và thay đổi nhưng vẫn còn cứng  nhắc và chậm thích nghi với thay đổi. Năng lực của cán bộ trong công tác  hoạch định và thực thi chính sách, hệ thống cơ quan dân cử chưa đủ  mạnh, cùng với việc hệ thống kiểm tra và cân bằng chưa được đảm bảo đã  tạo ra nhiều kẽ hở và cơ hội cho tham nhũng, gian lận nảy sinh và phát  triển; hình thành các nhóm lợi ích để bòn rút tài nguyên quốc gia. Chúng  ta vẫn chưa nắm bắt được hình dáng của một xã hội phát triển nhân văn  nên các định hướng đi kèm thường có nhiều mâu thuẫn. Tăng trưởng nhanh, chất lượng vốn đầu tư nước ngoài thấp và thiếu tính liên kết Chính sách tăng trưởng nhanh, và thậm chí là nhanh bằng mọi giá, cũng  dẫn đến việc dễ dãi chấp nhận các dự án đầu tư nước ngoài (FDI) kém chất  lượng, đặc biệt là về môi trường, điều kiện làm việc của người lao động  cũng như tuân thủ các nguyên tắc công khai minh bạch trong tiếp cận các  chính sách, tiếp cận các cơ quan quản lý của nhà nước Việt Nam. Điều  này gián tiếp làm tăng tình trạng tham nhũng cũng như đối xử không công  bằng đối với các nhà đầu tư đến từ các nước có các tiêu chuẩn ràng buộc  cao hơn, từ đó hạn chế nguồn vốn đầu tư này. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc lớn vào FDI đã lấn át đầu tư trong nước và  thiếu tính lan tỏa, trong khi nền kinh tế cần phải dựa vào khu vực kinh  tế tư nhân phát triển để đảm bảo sự tự cường của đất nước. Nghịch lý và cũng là rào cản lớn cho cơ hội của Việt Nam thoát khỏi bẫy  thu nhập trung bình lại ở sự thiếu kết nối giữa khu vực kinh tế tư nhân  và khu vực FDI nhằm thúc đẩy chuỗi giá trị mang tính liên kết, điều mà  các nền kinh tế như Hàn Quốc, hay Đài Loan đã làm rất tốt trong quá  trình phát triển. Việt Nam sẽ không thể có được một khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ,  để trở thành đầu tàu dẫn dắt quá trình tự lực, tự cường nếu vẫn còn dành  nhiều ưu đãi cho khu vực doanh nghiệp nhà nước và FDI. Rõ ràng, trong bối cảnh chính sách thu hút FDI đã không mang đến cú  huých chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước và một nền kinh  tế với hai khu vực có tính liên kết yếu, vấn đề chất lượng tăng trưởng,  tăng trưởng nhanh, bền vững cần được đặt ra để từ đó tốc độ tăng trưởng  phải hiệu quả hơn tốc độ tăng nợ để không đẩy quốc gia vào tình trạng vỡ  nợ và xói mòn niềm tin của nhà đầu tư, và để các khoản vay nợ được thực  sự phát huy và không biến thành tài sản tham nhũng. Câu chuyện lại quay  trở về cải cách hệ thống quản trị quốc gia. Cái bẫy của lao động giá rẻ và sự phụ thuộc vào Trung Quốc Việc chạy theo tăng trưởng kinh tế trong hoàn cảnh toàn cầu hóa khiến  Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào yếu tố lao động rẻ như một lợi thế so  sánh của mình cho sản xuất. Lao động giá rẻ đã thâm dụng ngày càng thâm  dụng hơn bởi nguồn nguyên liệu rẻ dồi dào từ thị trường Trung Quốc. Điều  này vừa như một vòng luẩn quẩn vừa như cái bẫy ngăn cản đầu tư phát  triển công nghệ, càng làm sản xuất trong nước lệ thuộc sâu hơn vào thị  trường nguyên liệu và cả công nghệ Trung Quốc. Nỗ lực thoát bẫy thu nhập  trung bình lại bị mắc bẫy. Rõ ràng, đại dịch đã giúp chúng ta “mở mắt” để từ đó phải xem xét lại  những hệ lụy của chính sách tăng trưởng nhanh trong mối quan hệ với chất  lượng vốn đầu tư nước ngoài, mối quan hệ quyền lợi các bên, các nhóm  lợi ích, sự lệ thuộc vào nguồn nguyên nhiên liệu từ Trung Quốc. Đặc biệt  là chính sách tăng trưởng nhanh cũng song hành với tham nhũng gia tăng,  khiến năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất cao và cuối cùng ảnh  hưởng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế cũng như phúc lợi, công bằng xã  hội. Bộ máy hành chính cồng kềnh và tham nhũng cấu kết Mặc dù Việt Nam đã có nhiều nỗ lực cải cách, nhưng bộ máy hành chính  vẫn rất cồng kềnh và tham nhũng vẫn là rào cản cho nỗ lực chung của quốc  gia trong quá trình phát triển tiếp theo. Bộ máy lớn đi cùng với hiệu lực và hiệu quả thấp đã và đang là gánh  nặng lớn cho ngân sách quốc gia. Áp lực tài khóa lớn khi phải chi các  khoản tiền khổng lồ để duy trì bộ máy, trong khi tham nhũng vẫn luôn xảy  ra và thường trực, dẫn tới nguồn lực bị thất thoát và giảm cơ hội cho  đầu tư phát triển cũng như tăng áp lực cho gia tăng nợ công quốc gia. Cơ chế trách nhiệm giải trình đã được nhắc đến nhưng thực sự vẫn chưa  đảm bảo để có thể ngăn chặn được tham nhũng. Hàng loạt vụ nâng giá thiết  bị y tế của các cơ quan phòng chống dịch bệnh bị phát hiện vừa qua là  những minh họa rõ nét cho tham nhũng và thiếu các cơ chế công khai, minh  bạch và trách nhiệm giải trình. Tiến sĩ Lê Vĩnh Triển, Tiến sĩ Nguyễn Quỳnh Huy và Tiến sĩ Võ Tất Thắng
Viện Nghiên cứu Chính Sách Nông nghiệp & Sức Khỏe, Trường ĐH Kinh tế TP. HCM Bài viết gốc: https://www.thesaigontimes.vn/303502/danh-gia-ban-than-nhan-ra-ton-tai.html

Looking at ourselves and identifying challenges - Đánh giá bản thân, nhận ra tồn tại

7

mins read

An article by Dr. Lê Vĩnh Triển, Dr. Nguyễn Quỳnh Huy and Dr. Võ Tất Thắng for The Saigon Times - 14/05/2020. The influence of the epidemic may change the po...

From December 1st, 2019, HAPRI officially collaborates with Mekong  Organics PTY LTD to pursue sustainable agriculture  education, training, and research objectives. In particular, the two  organizations will collectively: Undertake programs, projects, training, conferences, workshops, and other related activities. Exchange scientific materials, publications, information, and  expertise in promoting organic farming, certification, and marketing. Mekong Organics is based in Canberra ACT, Australia. Its mission is to  link organic agriculture, nutrition, and health for improving the  well-being of people in the Mekong region by translating science into  policies and practices, facilitate networking between Australia and  Southeast Asian countries in promoting organic agriculture and  sustainable development in Asia Pacific Region. Visit http://www.mekongorganics.com/ for more information.

HAPRI and Mekong Organics PTY LTD Australia announce partnership

1

mins read

From December 1st, 2019, HAPRI officially collaborates with Mekong Organics PTY LTD to pursue sustainable agriculture education, training, and research obj...

 
Impact of Trade Liberalization on Household Welfare: An Analysis Using Household Exposure-to-Trade Indices
Meeting room 10.01
Opening Ceremony
Room 10.02, Floor 10
Fulbright Scholarship Information Session
Room A103
 
ueh-sub-logo.png

Follow us

  • Facebook Link
  • LinkedIn Round

Viện Nghiên cứu Chính sách Sức khỏe và Nông nghiệp - Health & Agricultural Research Policy Institute,

Trường Đại học Kinh tế TPHCM - University of Economics Ho Chi Minh City

©2020 by HAPRI