Welcome

“The soil is the great connector of lives, the source, and destination of all.

It is the healer and restorer and resurrector, by which disease passes into health, age into youth, death into life.

Without proper care for it, we can have no community because without proper care for it, we can have no life.”
Wendell Berry, The Unsettling of America: Culture and Agriculture

 
New research article by Dr. Võ Tất Thắng, Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI)Director in Economic Analysis and Policy, Vol. 70, June 2021. Thang T. Vo, Truong Thiet Ha, "Decomposition of gender bias in enterprise employment: Insights from Vietnam", Economic Analysis and Policy, Volume 70, 2021, pp. 182-194, ISSN: 0313-5926, DOI: 10.1016/j.eap.2021.02.007. Abstract While  female participation in the labor market is crucial for women’s  empowerment, studies focusing on gender bias in enterprise employment  are limited. The present study investigates the determinants of female  participation in Vietnamese enterprises from 2011 to 2015. The Feasible  Generalized Least Squares (FGLS) method was used to analyze data from a  survey of Vietnamese micro-, small-, and medium-sized enterprises. The  study also conducted the Oaxaca–Blinder decomposition to assess the  degree of discriminatory treatment existing in firms in the  male-intensive sector compared with that in the female-intensive sector.  The results indicate that export activity, human capital investment,  industry characteristics, length of operation, firm size, gender, and  business owners’ social capital have positive effects on female  participation in enterprises. Contrarily, labor remuneration and the  level of capital per worker show a negative correlation. Gender  discrimination explains 26.11% of the number of female employees and  87.78% of the difference in female workers’ proportion. Conclusions and policy implications The results indicate that gender discrimination in job opportunities still exists in Vietnamese firms. When comparing firms in the male-intensive sector and those in the female-intensive sector, discrimination explains 26.11% of the number of female employees and 87.78% of the difference in the proportion of female workers. Export activities, human capital investment, industry characteristics, length of operation, firm size, gender and business owners’s social capital encourage both the number and proportion of female workers in firms. Contrarily, the labor remuneration regime and level of capital per worker show a negative correlation. The results suggest that future public policies should focus on supporting a firm’s export activities, expanding export markets, and improving the efficiency of trade associations to encourage female participation in the labor market. In addition, policies that help firms boost their business would be also necessary for the benefit of female workers. Simultaneously, the results support policies in challenging gender stereotypes through various gender awareness campaigns and training for employers on modern strategies of human resource development. Policies motivating female entrepreneurship could raise female employment; and therefore, the provision of finance and training for micro-businesses owned and operated by women are crucial.

Decomposition of gender bias in enterprise employment: Insights from Vietnam

2

mins read

New research article by Dr. Võ Tất Thắng, Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI)Director in Economic Analysis and Poli...

Higher Education’s Role in Promoting Entrepreneurship and Innovation Ecosystems in Vietnam: An Evaluation of the Innovative Partnership Program New research article by Dr. Nguyễn Văn Giáp, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) in Human Resource Development in Vietnam pp 121-145, Part of the Palgrave Macmillan Asian Business Series book series (PAMABS). Pham L.T., Hayden M., Nguyen A.N., Nguyen K.L.H., Van Nguyen G., Nguyen M.D.T. (2021) Higher Education’s Role in Promoting Entrepreneurship and Innovation Ecosystems in Vietnam: An Evaluation of the Innovative Partnership Program. In: Tran H.T., Phuong T.T., Van H.T.M., McLean G.N., Ashwill M.A. (eds) Human Resource Development in Vietnam. Palgrave Macmillan Asian Business Series. Palgrave Macmillan, Cham. DOI: https://doi.org/10.1007/978-3-030-51533-1_5 ABSTRACT: Vietnam’s rapid economic growth over the past two decades has been driven mainly by the exploitation of natural resources and a manufacturing industry reliant on a low-skill labor force. The challenge now is for the economy to become more engaged with higher value-adding forms of production. This transition will require the creation of entrepreneurship and innovation ecosystems, sustained by intellectual and entrepreneurial talent. Ideally these ecosystems will draw on the talent pool embodied in and created by universities. To date, however, few universities in Vietnam have been active in seeding these ecosystems. In this chapter, we report on a recent initiative aimed at mobilizing the establishment of entrepreneurship and innovation ecosystems at a selected group of universities in Vietnam. Based upon insights to emerge from the initiative, lessons learned for the future development of the higher education sector in Vietnam are identified and shared.

Higher Education’s Role in Promoting Entrepreneurship and Innovation Ecosystems in Vietnam [...]

1

mins read

Higher Education’s Role in Promoting Entrepreneurship and Innovation Ecosystems in Vietnam: An Evaluation of the Innovative Partnership P...

Trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (World Happiness Report) hàng năm, New Zealand liên tục nằm trong top 10 quốc gia hạnh phúc nhất trên thế giới. Giáo sư Robert MacCulloch, một chuyên gia về kinh tế học hạnh phúc từ trường Đại học Auckland, cho rằng người New Zealand khá hài lòng với cuộc sống của họ, đó là một điều tốt. Tuy nhiên, người New Zealand lẽ ra có thể làm tốt hơn bằng những cải cách đột phá, thay vì cứ chọn những cách làm an toàn và “tự mãn” về xếp hạng hạnh phúc của mình. Sự tự mãn này làm cho người New Zealand không có động lực để thay đổi, và điều này, theo MacCulloch, có thể sẽ dẫn đến những viễn cảnh không mấy tốt đẹp cho New Zealand trong tương lai. Đại dịch COVID-19 làm cho người ta suy nghĩ nhiều hơn về hạnh phúc. Ông cho rằng New Zealand gần như đã duy trì một cuộc sống bình thường, một ngoại lệ đặc biệt trong bối cảnh hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang vật lộn với COVID-19. Tuy nhiên, hạnh phúc này của New Zealand cũng tương đối mong manh. Năm 2019, cứ mỗi đô la Chính phủ New Zealand chi, thì 71 cents là dành cho giáo dục, y tế và phúc lợi. MacCulloch cho rằng chính COVID-19 đã tạo ra động lực cải cách cho New Zealand. Đó là điều cần thiết nếu nước này muốn duy trì mức độ hạnh phúc hiện có, và hạnh phúc đó phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống phúc lợi và y tế. Ngân sách Hạnh phúc (Well-being Budget) MacCulloch ủng hộ Ngân sách Hạnh phúc do Chính phủ New Zealand đưa ra, song, ông cũng quan ngại về tính thực tiễn của Ngân sách này. Ông cho rằng nó không rõ ràng. Ngân sách Hạnh phúc dựa trên một bảng đánh giá phức tạp với hơn 50 chỉ số. Theo MacCulloch, quá nhiều chỉ số sẽ tạo ra sự không nhất quán, nó trở thành điểm yếu của cách đo lường này. Ông cho rằng chỉ nên dùng một hoặc hai chỉ số đơn giản, ví dụ, đo lường mức độ hạnh phúc bằng câu hỏi: “Đánh giá mức độ hài lòng của bạn đối với cuộc sống” với các thang đo “rất hài lòng, hài lòng, không hài lòng lắm, rất không hài lòng”. Để trả lời câu hỏi như trên, người được hỏi không cần phải có kiến thức về kinh tế, mà chỉ cần để ý một chút về cảm giác của mình. Bằng cách kết hợp dữ liệu thu được từ câu hỏi trên với các yếu tố vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, bất bình đẳng, thay đổi trong thu nhập, tỷ lệ tội phạm, yếu tố môi trường, MacCulloch và các nhà kinh tế học khác đã có thể định giá hạnh phúc cho hầu như mọi thứ. Ví dụ, chúng ta có thể đánh giá tác động của môi trường lên hạnh phúc con người như sau. Sự gia tăng ô nhiễm không khí đo bằng lượng tăng khí thải SO2 ở mức 1 phần triệu hạt trên mét khối không khí (1µ/m3) khiến mọi người cảm thấy tồi tệ hơn là khi thu nhập hộ gia đình của họ giảm 1,5%. Phí tổn tinh thần của suy thoái kinh tế Trong các bài nghiên cứu tốt nhất của mình, MacCulloch đánh giá tác động của suy thoái kinh tế và thất nghiệp lên mức độ hạnh phúc của người Mỹ và Châu Âu. Ông phát hiện ra rằng suy thoái kinh tế không chỉ làm người ta tổn thất về tài chính, mà còn cảm thấy căng thẳng, bồn chồn, và dần trở nên trầm cảm. Điều này tạo ra phí tổn tinh thần vô cùng lớn, nó kéo dài thậm chí đến cả sau suy thoái. Cụ thể, một người bị mất việc do khủng hoảng kinh tế sẽ bị giảm mức độ hạnh phúc nhiều hơn 1.3 lần so với nỗi đau họ phải trải qua trong một cuộc ly hôn. Một quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp gia tăng thì cư dân sẽ giảm mức độ hạnh phúc tương đương với khi GDP nước này giảm 5.7%. Nghiên cứu của ông gây ra nhiều tranh cãi bởi nó đặt một dấu chấm hỏi về quan điểm của các nhà kinh tế đương thời. Các nhà kinh tế học truyền thống cho rằng nếu một người bị mất việc trong một cuộc suy thoái, họ có thể coi đó là cơ hội để đi nghỉ mát, hoặc để đào tạo thêm, hay thử một việc gì mới. Trong mô hình truyền thống, khó khăn duy nhất mà một người phải đối mặt khi mất việc là mất tiền lương tạm thời. Đo lường theo cách truyền thống, ở cấp quốc gia, chi phí cho một cá nhân mất việc là rất nhỏ, trung bình khoảng 200USD/năm. Việc điều chỉnh lại hoàn cảnh, nghỉ làm hoặc tìm việc mới được cho là diễn ra nhanh chóng. MacCulloch cho rằng các chuyên gia kinh tế đã mắc sai lầm rất lớn. “Nếu bạn đến gặp bác sĩ và họ hỏi bạn đang cảm thấy thế nào, bác sĩ sẽ lắng nghe câu trả lời của bạn một cách nghiêm túc, các nhà kinh tế học thì không.” Kinh tế vĩ mô hạnh phúc (Macroeconomics of happiness) Quan điểm kinh tế thịnh hành cho rằng dữ liệu dựa trên đánh giá chủ quan của mọi người về hạnh phúc là vô nghĩa. Do đó, phát hiện của MacCulloch về tác động của những thăng trầm kinh tế đối với cảm giác hạnh phúc của con người là một bước đột phá lớn. Bằng cách giới thiệu các cụm từ mới như 'Kinh tế vĩ mô hạnh phúc', MacCulloch đã giúp mở ra lăng kính lấy con người làm trung tâm để định hình tư duy và chính sách kinh tế. Điều này trái ngược với quan điểm phổ biến đã định hình chính sách kinh tế ở phương Tây từ nửa cuối thế kỷ 20. “Các mô hình kinh tế học trước đây, đặc biệt là Trường phái Chicago ở Hoa Kỳ, với trọng tâm duy nhất là GDP và quan điểm duy vật, đã không giải thích được các sự kiện lớn của nền kinh tế thế giới. Trường phái Chicago bao gồm nhóm các nhà kinh tế học có ảnh hưởng nhất từ ​​cuối thế kỷ 20 cho đến ngày nay, trong đó có người đoạt giải Nobel Milton Friedman. Các công trình nghiên cứu của của họ về thị trường và thương mại tự do vẫn có ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên, MacCulloch cho rằng ngày càng có nhiều nghi ngờ về những mô hình kinh tế này sau sự sụp đổ thị trường cổ phiếu toàn cầu năm 1987 và suy thoái kinh tế sau đó. Một vấn đề trong việc phổ biến công trình của MacCulloch đó là các tạp chí kinh tế uy tín đa số được xuất bản tại Hoa Kỳ, và được duyệt bởi các nhà kinh tế thuộc trường phái kinh tế Hoa Kỳ. Do đó, MacCulloch và những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Kinh tế Hạnh phúc gặp nhiều khó khăn khi công bố nghiên cứu của họ. MacCulloch nói: “Chủ đề này không phổ biến ở Hoa Kỳ. Tôi nghĩ đó là do văn hóa và cũng bởi vì trọng tâm của người Mỹ là tối đa hóa lợi nhuận và thị trường tự do.” Trước MacCulloch, việc lấy GDP là thước đo duy nhất cho thịnh vượng của một quốc gia đã từng vấp phải những ý kiến phản đối. MacCulloch đề cập đến bài phát biểu vào năm 1968 tại Kansas của Robert Kennedy khi đang là ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ: “GDP không thể hiện sức khỏe của con cái chúng ta, không cho thấy chất lượng giáo dục hay niềm vui của trẻ. Nó không bao gồm vẻ đẹp của thơ ca, sự bền vững của hôn nhân, tính sắc sảo trong các cuộc tranh luận, hay sự liêm chính của công nhân viên chức. Nó không đo được lòng dũng cảm, trí tuệ, hay sự tận tâm của chúng ta đối với đất nước. Nói cách khác, GDP đo lường mọi thứ, nhưng lại không đo được những điều làm cho cuộc sống này trở nên đáng sống.” Đo lường thịnh vượng bằng GDP trở thành một câu hỏi lớn đối với các nhà kinh tế học sau khi Richard Easterlin, Giáo sư Kinh tế tại Đại học Nam California,  xuất bản bài báo “Tăng trưởng kinh tế có cải thiện số phận con người hay không” vào năm 1974. Easterlin có thể được coi là cha đẻ của cách tiếp cận hạnh phúc trong kinh tế học. Nghiên cứu của Easterlin chỉ ra rằng trong một quốc gia, những người giàu thường hạnh phúc hơn nhiều so với người nghèo, nhưng những quốc gia giàu thì không hạnh phúc hơn những quốc gia nghèo, và khi một quốc gia trở nên giàu có hơn về của cải, mức độ hạnh phúc của họ cũng dần bão hòa và không tăng lên nữa. Kinh tế thần kinh học (Neuro-economics) trong tương lai MacCulloch nhận xét: “Lập luận của Easterlin đánh vào cốt lõi ý nghĩa của đời sống kinh tế trên hành tinh này. Tất cả chúng ta đều đang vật lộn để sản xuất ra nhiều của cải hơn, nhưng điều đó có làm cho chúng ta hạnh phúc hơn không?” Ông cho rằng sự khác biệt về hạnh phúc giữa người nguyên thủy và chúng ta không tỷ lệ thuận với sự khác biệt trong thu nhập. Nhờ những tiến bộ trong khoa học y tế, chúng ta ngày càng hiểu nhiều hơn về cách hoạt động của não bộ. Thậm chí còn có một lĩnh vực mới hiện nay được gọi là kinh tế thần kinh học. MacCulloch dự đoán một ngày nào đó, chúng ta sẽ có thể đo lường hạnh phúc một cách chính xác thông qua phản ứng của não bộ. Điều này rồi sẽ thay đổi suy nghĩ của những nhà kinh tế hiện chỉ đo lường mức độ hạnh phúc bằng số dư tài khoản ngân hàng của chúng ta. HAPRI lược dịch Nguồn: https://www.auckland.ac.nz/en/news/2021/02/17/the-economics-of-happiness-and-well-being.html

Kinh tế học hạnh phúc từ góc nhìn của một giáo sư Đại học Auckland, New Zealand

7

mins read

Trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (World Happiness Report) hàng năm, New Zealand liên tục nằm trong top 10 quốc gia hạnh phúc nhất trên th...

Sáng ngày 29/1/2021, hội thảo “Tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ Chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm” đã diễn ra với sự góp mặt của hơn 30 khách mời là các giảng viên trong và ngoài trường Đại học Kinh Tế TP.HCM, đại diện các doanh nghiệp, các chuyên gia đa ngành, cùng các bạn sinh viên. Về phía diễn giả, hội thảo vinh dự có sự tham gia của GS. Matthew Gorton – Đại học Newcastle (online), TS. Hồ Kim Liên – Chủ tịch Hội nước mắm Phú Quốc – Chủ tịch Công ty nước mắm Khải Hoàn, TS. Hoàng Văn Việt, Ths. Nguyễn Khánh Duy, và TS. Võ Tất Thắng – Khoa Kinh tế, trường Đại học Kinh tế TP.HCM. Buổi hội thảo chia sẻ kết quả từ Dự án nghiên cứu “Tăng cường Tính bền vững của Chuỗi Thực phẩm Châu Âu bằng Chính sách Chất lượng và Mua sắm (Strength2Food)” được tài trợ bởi Ủy ban Châu Âu. Dự án hướng đến đánh giá tính bền vững về kinh tế, xã hội, và môi trường của việc đăng ký Chứng nhận Bảo hộ xuất xứ hàng hóa (PDO) cho nước mắm Phú Quốc và Bảo hộ chỉ dẫn địa lý (PGI) cho cà phê Buôn Ma Thuột ở Việt Nam. Trình bày trực tuyến ở buổi hội thảo, GS. Matthew Gorton đã có những chia sẻ về dự án nghiên cứu Strength2food. GS cho biết GI (Geographical Indication – Chỉ dẫn địa lý)  sẽ mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, Thái Lan. Tiếp đó, ông nhận xét rằng PDO và PGI tuy mang lại nhiều lợi ích nhưng vẫn chưa được phổ biến rộng rãi ở khía cạnh người tiêu dùng và nhà sản xuất. Do đó, nhu cầu của những sản phẩm này cần được xúc tiến và đẩy mạnh hơn nữa. Để giúp người tham dự, đặc biệt là các bạn sinh viên hiểu rõ hơn về quy trình bảo hộ và vận hành  Chỉ dẫn địa lý (PDO), TS. Hồ Kim Liên đã trình bày về case study của nước mắm Phú Quốc – sản phẩm nước mắm đầu tiên được Liên Minh Châu Âu bảo hộ vào cuối năm 2012. Bên cạnh đó, TS. Liên còn nhấn mạnh những nguyên tắc để bảo vệ thương hiệu nước Mắm và tầm quan trọng của việc gìn giữ giá trị truyền thống trong kinh doanh. Từ đó, giúp sản phẩm nước mắm Phú Quốc nói riêng và các sản phẩm PDO nói chung có cơ hội phát triển bền vững. TS. Hoàng Văn Việt và Ths. Nguyễn Khánh Duy đã lần lượt trình bày kết quả nghiên cứu về tính bền vững của nước mắm Phú Quốc có chứng nhận PDO, và cà phê Buôn Ma Thuột có chứng nhận PGI. Tuy nhiên, cả hai kết quả đều cho thấy sự khác biệt giữa sản phẩm PDO/PDI và NON-PDO/PGI chưa thực sự rõ ràng. Ngoài ra, hai Thầy cũng đề cập đến những rào cản, tiềm năng và đưa ra những giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm này. Trong phần thảo luận cuối chương trình, với sự dẫn dắt của TS. Võ Tất Thắng, những câu hỏi về quy trình bảo hộ, chiến lược và mục tiêu của doanh nghiệp sở hữu sản phẩm được Chỉ dẫn địa lý đã phần nào được làm sáng tỏ. TS. Võ Tất Thắng cũng đưa ra quan điểm về vai trò quan trọng của Hiệp hội và nhà lãnh đạo trong quá trình phát triển và đẩy mạnh thương hiệu sản phẩm. Đồng thời, Thầy đã đề xuất thêm nhiều điểm mới, có giá trị đào sâu nghiên cứu và phát triển sau này. Đặc biệt, TS. Liên đã chỉ ra phương châm để phát triển nước mắm Khải Hoàn là tập trung vào đạo đức trong kinh doanh, nâng cao chất lượng, không chạy theo số lượng. Những điều này định hình sự thành công của doanh nghiệp nước mắm Khải Hoàn. Buổi hội thảo đã giúp người tham dự hiểu rõ hơn về việc đăng kí bảo hộ chỉ dẫn địa lý sản phẩm và sự khác biệt giữa nước mắm PDO và NON-PDO. Viện Nghiên cứu chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe – HAPRI – xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các diễn giả, khách mời cùng toàn thể người tham dự. Hẹn gặp lại  tại những chương trình tiếp theo do Viện tổ chức. Toàn bộ tài liệu liên quan được đề cập trong buổi hội thảo có thể được download tại đây:

HAPRI SEMINAR: Tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ Chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm

3

mins read

Sáng ngày 29/1/2021, hội thảo “Tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ Chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm” đã diễn ra với sự góp mặt của hơn 30 k...

HAPRI is ranked 113th in top 2020 Social Policy Think Tanks and listed in top 2020 Best New Think Tanks by Think Tanks and Civil Societies Program (TTCSP). TTCSP is conducted by the Lauder Institute at the University of Pennsylvania, aiming to look at the role policy institutes play in governments and civil societies around the world. TTCSP examines the evolving role and character of public policy research organizations. Over the last 30 years, TTCSP has developed and led a series of global initiatives that have helped bridge the gap between knowledge and policy in critical policy areas such as international peace and security, globalization and governance, international economics, environmental issues, information and society, poverty alleviation and healthcare and global health. These international collaborative efforts are designed to establish regional and international networks of policy institutes and communities that improve policymaking while strengthening democratic institutions and civil societies around the world. TTCSP works with leading scholars and practitioners from think tanks and universities and produces the annual Global Go To Think Tank Index that ranks the world’s leading think tanks in a variety of categories. The annual think Tank Index is used by academics, journalists, donors and the public to locate and connect with the leading centers of public policy research around the world. TTCSP’s goal is to increase the profile and performance of think tanks and raise the public awareness of the important role think tanks play in governments and civil societies around the globe. What is a Think tank? Think tanks are public policy research, analysis, and engagement organizations. They are organizations that generate policy-oriented research, analysis, and advice on domestic and international issues that enable policymakers and the public to make informed decisions about public policy issues. Think tanks may be affiliated with political parties, governments, interest groups, or private corporations or constituted as independent nongovernmental organizations (NGOs). These institutions often act as a bridge between the academic and policymaking communities, serving the public interest as an independent voice that translates applied and basic research into a language and form that is understandable, reliable, and accessible for policymakers and the public. Top Social Policy Think Tanks is dedicated to the leading social policy institutions of the global community. The top think tanks in this category provide superior, innovative research and strategic analyses on topics about a wide array of social issues and challenges. These think tanks excel in research, analysis, and public engagement on a wide range of policy issues with the aim of advancing debate, facilitating cooperation between relevant actors, maintaining public support and funding, and improving the overall quality of life in one of the relevant countries. Best New Think Tanks are think tanks that have been established in the last 24 months and are centers of excellence. The Think Tank Index Process ▸ Call for Expert Panel Members and Update of TTCSP Think Tank Database: April—August 2020 ▸ Round I: Nominations, September—October 2020
 A call for Nominations was sent to over 8,100 think tanks and approximately 12,800 journalists, public and private donors, and policymakers worldwide. ▸ Round II: Peer and Expert Rankings, October 2020
 Think tanks with 10 or more nominations were placed in an electronic ranking survey. A letter announcing the second round was emailed to all the think tanks, journalists, public and private donors, and policymaker groups who agreed to participate in the process. Regional and Functional Expert Panels were used for every category. These specialists were consulted to help assure the quality and accuracy of the nominations before they were placed on the final rankings survey. ▸ Round III: Expert Panel Selects 2020 Go To Think Tanks, November—December 2020
 The members of the Expert Panel received information packets by email to facilitate the final selection process. Individuals who served on last year’s Expert Panel and those who were nominated this year were invited to serve on the 2020 Expert Panel. Experts from every region and functional area were represented on the Expert Panel. Panelists submitted their rankings and recommendations during December 2020. ▸ 2020 Global Go To Think Tank Report Launch: The 2020 Global Go-To Think Tank Rankings was released in New York, Washington D.C., and over 100 cities around the world on January 30, 2021. Viet Nam is in top 10 countries in the world and top 4 Asia countries with the largest number of think tanks. Countries with the Largest Number of Think Tanks More information at: gotothinktank.com/global-goto-think-tank-index __________________________________________________________ HAPRI xếp hạng thứ 113 trên Top 2020 Social Policy Think Tanks của TTCSP HAPRI xếp hạng thứ 113 trên Top 2020 Social Policy Think Tanks và thuộc top 2020 Best New Think Tanks của Think Tanks and Civil Societies Program (TTCSP). Think Tanks and Civil Societies Program (TTCSP) được thực hiện bởi Viện Lauder Institute, trường đại học Pennsylvania, Hoa Kỳ, nhằm đánh giá vai trò của các viện chính sách đối với các chính phủ. Trong 30 năm qua, TTCSP đã phát triển và dẫn đầu một loạt các sáng kiến giúp thu hẹp khoảng cách giữa kiến ​​thức và chính sách trong các lĩnh vực quan trọng. Những nỗ lực hợp tác quốc tế này nhằm thiết lập mạng lưới gồm các viện chính sách trên phạm vi toàn cầu, nhằm cải thiện việc hoạch định chính sách, đồng thời củng cố các thể chế dân chủ và xã hội trên toàn thế giới. TTCSP làm việc với các học giả và chuyên gia hàng đầu từ các tổ chức tư vấn và trường đại học, tạo ra Chỉ số Global Go To Think Tank hàng năm nhằm xếp hạng các “think tanks” hàng đầu thế giới, với sự giúp đỡ của một hội đồng gồm hơn 1.796 tổ chức và các chuyên gia từ các cơ quan truyền thông, học viện, các tổ chức tài trợ công và tư nhân, và các chính phủ trên khắp thế giới. Mục tiêu là để quảng bá thành quả của các “think tanks”, nhằm tăng cường nhận thức của công chúng về những vai trò quan trọng của “think tanks” đối với chính phủ và xã hội. Think tank là gì? “Think tank” là các tổ chức nghiên cứu, phân tích, và làm chính sách về các vấn đề trong nước và quốc tế, cho phép các nhà hoạch định chính sách và công chúng đưa ra quyết định sáng suốt về các vấn đề chính sách. “Think tank” có thể được liên kết với các đảng phái chính trị, chính phủ, nhóm lợi ích hoặc các tập đoàn tư nhân hoặc được cấu thành như các tổ chức phi chính phủ độc lập (NGO). Các tổ chức này thường đóng vai trò là cầu nối giữa cộng đồng học thuật và hoạch định chính sách, phục vụ lợi ích công như một đại diện độc lập, biến các nghiên cứu ứng dụng và cơ bản sang ngôn ngữ và hình thức dễ hiểu, đáng tin cậy và dễ tiếp cận cho các nhà hoạch định chính sách và công chúng. Top Social Policy Think Tanks là nhóm các tổ chức về chính sách xã hội hàng đầu trên toàn thế giới. Các tổ chức trong danh mục này thực hiện các nghiên cứu sáng tạo, vượt trội, đưa ra những phân tích chiến lược về nhiều vấn đề mang tính thách thức trong xã hội. Những “think tanks” này nổi trội trong nghiên cứu, phân tích, và cam kết cộng đồng về các vấn đề chính sách với mục đích thúc đẩy các cuộc tranh luận, tạo điều kiện hợp tác giữa các bên có liên quan, duy trì hỗ trợ và tài trợ cộng đồng, và nâng cao chất lượng tổng thể của cuộc sống tại các quốc gia. Best New Think Tanks là các “think tanks” mới được thành lập và được đánh giá là xuất sắc nhất trong 24 tháng qua. Quy trình ▸ Kêu gọi thành viên Ban chuyên gia và Cập nhật Cơ sở dữ liệu TTCSP Think Tank: Tháng 4 - Tháng 8 năm 2020 ▸ Vòng I: Đề cử, tháng 9 - tháng 10 năm 2020 ▸ Vòng II: Xếp hạng, tháng 10 năm 2020 ▸ Vòng III: Lựa chọn của Ban chuyên gia, tháng 11 - tháng 12 năm 2020 ▸ 2020 Báo cáo Global Go To Think Tank được công bố: phát hành tại New York, Washington DC, và hơn 100 thành phố trên toàn thế giới vào ngày 30 tháng 1, năm 2021. Năm 2020, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia trên thế giới và top 4 châu Á có số lượng các “think tanks” nhiều nhất. Các quốc gia có số lượng “think tanks” nhiều nhất Thông tin thêm tại: gotothinktank.com/global-goto-think-tank-index

HAPRI is ranked 113th in top 2020 Social Policy Think Tanks by TTCSP

6

mins read

HAPRI is ranked 113th in top 2020 Social Policy Think Tanks and listed in top 2020 Best New Think Tanks by Think Tanks and Civil Societie...

Maintaining Diversity of Integrated Rice and Fish Production Confers Adaptability of Food Systems to Global Change New research article by Dr. Nguyễn Văn Kiền, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) in Frontiers in Sustainable Food Systems, Vol. 4, November 2020. Sarah Freed, Benoy Barman, Mark Dubois, Rica Joy Flor, Simon Funge-Smith, Rick Gregory, Buyung A. R. Hadi, Matthias Halwart, Mahfuzul Haque, S. V. Krishna Jagadish, Olivier M. Joffre, Manjurul Karim, Yumiko Kura, Matthew McCartney, Manoranjan Mondal, Van Kien Nguyen, Fergus Sinclair, Alexander M. Stuart, Xavier Tezzo, Sudhir Yadav and Philippa J. Cohen. “Maintaining Diversity of Integrated Rice and Fish Production Confers Adaptability of Food Systems to Global Change”, Frontiers in Sustainable Food Systems, 4 (2020), pp. 207, DOI: 10.3389/fsufs.2020.576179. ABSTRACT: Rice and fish are preferred foods, critical for healthy and nutritious diets, and provide the foundations of local and national economies across Asia. Although transformations, or “revolutions,” in agriculture and aquaculture over the past half-century have primarily relied upon intensified monoculture to increase rice and fish production, agroecological approaches that support biodiversity and utilize natural processes are particularly relevant for achieving a transformation toward food systems with more inclusive, nutrition-sensitive, and ecologically sound outcomes. Rice and fish production are frequently integrated within the same physical, temporal, and social spaces, with substantial variation amongst the types of production practice and their extent. In Cambodia, rice field fisheries that strongly rely upon natural processes persist in up to 80% of rice farmland, whereas more input and infrastructure dependent rice-shrimp culture is expanding within the rice farmland of Vietnam. We demonstrate how a diverse suite of integrated production practices contribute to sustainable and nutrition-sensitive food systems policy, research, and practice. We first develop a typology of integrated production practices illustrating the nature and degree of: (a) fish stocking, (b) water management, (c) use of synthetic inputs, and (d) institutions that control access to fish. Second, we summarize recent research and innovations that have improved the performance of each type of practice. Third, we synthesize data on the prevalence, outcomes, and trajectories of these practices in four South and Southeast Asian countries that rely heavily on fish and rice for food and nutrition security. Focusing on changes since the food systems transformation brought about by the Green Revolution, we illustrate how integrated production practices continue to serve a variety of objectives to varying degrees: food and nutrition security, rural livelihood diversification and income improvement, and biodiversity conservation. Five shifts to support contemporary food system transformations [i.e., disaggregating (1) production practices and (2) objectives, (3) utilizing diverse metrics, (4) valuing emergent, place-based innovation, (5) building adaptive capacity] would accelerate progress toward Sustainable Development Goal 2, specifically through ensuring ecosystem maintenance, sustainable food production, and resilient agricultural practices with the capacity to adapt to global change. CONCLUSION: Systems perspectives to the concurrent environmental and food and nutrition security challenges we now face are gaining traction in policy arenas, providing an opportunity to embrace diversity in visions of agricultural change. Enabling the contribution of agroecological approaches to transforming food systems has the potential to improve progress toward the “Zero Hunger” Sustainable Development Goal (SDG). The evidence we synthesize demonstrates this for rice and fish producing regions. Integrated and agroecological rice-fish production practices can contribute to productivity and income for small-scale food producers and to ecosystem maintenance and capacity for adaptation to climate change and natural disasters, in alignment with SDG targets 2.3 and 2.4. Implementation of the five shifts we propose for food system transformations could maintain or further improve sufficient rice yields and production of rice and fish. Beyond that, these shifts support ecological integrity and biodiversity conservation alongside the provision of a broad range of nutrition and livelihood benefits, commensurate with a holistic vision of sustainable food systems.

Maintaining Diversity of Integrated Rice and Fish Production [...]

3

mins read

Maintaining Diversity of Integrated Rice and Fish Production Confers Adaptability of Food Systems to Global Change New research article b...

Climate change and livelihood resilience capacities in the Mekong Delta: a case study on the transition to rice–shrimp farming in Vietnam’s Kien Giang Province New research article by Dr. Trần Anh Thông, Senior Research Associate at Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) in Climatic Change, Vol. 164, Number 9, 2021. Thijs Poelma, Mucahid Mustafa Bayrak, Duong Van Nha, and Thong Anh Tran. “Climate change and livelihood resilience capacities in the Mekong Delta: a case study on the transition to rice–shrimp farming in Vietnam’s Kien Giang Province.” Climatic Change 164, 9 (2021). DOI: https://doi.org/10.1007/s10584-021-02973-w ABSTRACT: Responding to changing climatic conditions in the Mekong Delta (MKD), Vietnam’s national and provincial governments have in recent years placed greater emphasis on aquaculture-oriented farming practices, such as shrimp and rice–shrimp farming, instead of rice monoculture. This study assessed whether the transition to rice–shrimp and extensive shrimp farming has enhanced the livelihood resilience of local farmers in Kiên Giang—a coastal province in the MKD—to climate change. A theoretical framework was developed, which combined the resilience capacities framework with the subjective resilience and Resilience Index Measurement Analysis frameworks. Subsequently, the framework was applied to examine three types of agricultural-based livelihoods: (1) monocrop rice farming; (2) rice–shrimp farming; and (3) extensive shrimp farming. A mixed-methods approach was undertaken consisting of both in-depth and semistructured interviews as well as household surveys (n = 120). The findings demonstrated that rice–shrimp farmers’ livelihoods were relatively the most resilient to climate change. On the other hand, rice farmers were generally more able to recover from climate stressors, such as drought and saline intrusion, whereas shrimp farmers, lacking transformative capacity, were the least resilient. This study concluded that the governmental decision to transition Kiên Giang’s agricultural sector towards rice–shrimp farming has been relatively successful.

Climate change and livelihood resilience capacities in the Mekong Delta [...]

2

mins read

Climate change and livelihood resilience capacities in the Mekong Delta: a case study on the transition to rice–shrimp farming in Vietnam...

Sáng ngày 13/01/2021, buổi hội thảo đầu tiên nằm trong chuỗi chương trình HAPRI TALKS với bài trình bày “Gender, equality and economic complexity” của TS. Nguyễn Phúc Cảnh đã diễn ra trong không khí sôi nổi tại Trường ĐH Kinh tế TPHCM. TS. Nguyễn Phúc Cảnh là giảng viên khoa Tài chính công, Đại học Kinh tế TPHCM đồng thời là Nghiên cứu viên tại Leicester Institute of Advanced Studies, University of Leicester, UK, với hơn 70 bài nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí uy tín. Hiện nay, Thầy cũng là một Nghiên cứu viên (Research Fellow) kỳ cựu của HAPRI. Tại buổi chia sẻ, với chủ đề về bất bình đẳng giới và sự phát triển của nền kinh tế, TS. Nguyễn Phúc Cảnh bàn về bốn khía cạnh trong bất bình đẳng giới bao gồm Công việc, Sức khỏe, Giáo dục, và Quyền của phụ nữ. Các vấn đề được nghiên cứu, phân tích chi tiết với bộ số liệu của WDIs và CIRI từ năm 1991 - 2017. Bất bình đẳng giới là  một chủ đề không mới, nhưng Thầy đã tạo ra góc nhìn vô cùng mới mẻ cho những người quan tâm khi liên kết bất bình đẳng với sự phát triển của nền kinh tế. Kết quả nghiên cứu của bài viết cho thấy, hầu hết các yếu tố góp phần thúc đẩy sự bình đẳng trong giới đều có tác động tích cực đến nền kinh tế của quốc gia. Tuy nhiên, TS. Cảnh nói rõ bài nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế nhất định. Vì thế, trong buổi thảo luận, với sự tham gia nhiệt tình của các giảng viên, chuyên gia nghiên cứu và các bạn sinh viên, nhiều câu hỏi đã phần nào được làm sáng tỏ. Đồng thời, đề xuất thêm nhiều điểm mới, có giá trị đào sâu nghiên cứu và phát triển sau này. Ngoài ra, TS. Cảnh cũng đã có những chia sẻ cởi mở về quá trình hoàn thành các bài nghiên cứu. Những chia sẻ của TS. Cảnh đã tạo động lực cho người tham dự, đặc biệt là các bạn sinh viên trong việc học tập và nghiên cứu. Buổi thảo luận khép lại với nhiều kiến thức mới được tiếp cận, khai thác ,và những sáng tạo mới được nhen nhóm trong người tham dự. HAPRI xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Nguyễn Phúc Cảnh với những chia sẻ mà Thầy đã mang đến, và cảm ơn sự tham gia nhiệt tình, những phát biểu đầy tính xây dựng, đóng góp của những người tham dự. Hẹn gặp lại vào sự kiện HAPRI TALKS tiếp theo, cũng như các chương trình khác của HAPRI!

HAPRI TALKS: Gender, equality and economic complexity

2

mins read

Sáng ngày 13/01/2021, buổi hội thảo đầu tiên nằm trong chuỗi chương trình HAPRI TALKS với bài trình bày “Gender, equality and economic co...

 
  • HAPRI SEMINAR: The importance of registering Geographical Indication products in the international market
    B1 - 204
    Jan 29, 8:30 AM – 11:30 AM
    B1 - 204, Đại học Kinh tế TPHCM, 279 Nguyễn Tri Phương, Phường 5, District 10, Ho Chi Minh City, Vietnam
    Hội thảo về chủ đề “Tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ Chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm.”
  • HAPRI TALKS: Gender, equality and economic complexity
    B1 - 203
    Jan 13, 11:00 AM – 1:00 PM
    B1 - 203, 279 Nguyễn Tri Phương, Phường 5, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Vietnam
  • Vietnam South-eastern Region Innovation Start-up Festival 2020 and Innovation for Business Summit 2020
    Campus B, University of Economics HCMC
    Nov 24, 2020, 8:00 AM – 5:00 PM
    Campus B, University of Economics HCMC, 279 Nguyen Tri Phuong, Ward 5, District 10, Ho Chi Minh City, Vietnam
    Vietnam South-easterInnovation Start-up Festival (TECHFEST) 2020 will be held at the University of Economics, Ho Chi Minh City on November 24, 2020. HAPRI would like to invite individuals, collectives and businesses interested in multidisciplinary innovative start-ups to participate in this event.
  • Students Meet Enterprises (SMEs) - Series 1: KOI Capital - Investment Opportunities in the Age of Covid-19
    Zoom Webinar
    Aug 14, 2020, 7:00 PM – 8:30 PM GMT+7
    Zoom Webinar
    KOI Capital exchanges ideas with UEH students on investment risks and opportunities during the pandemic.
  • HAPRI's Launch Event
    Room A.103
    Jun 16, 2020, 9:00 AM – 11:00 AM GMT+7
    Room A.103, 59C Nguyễn Đình Chiểu, Ward 6, District 3, Hồ Chí Minh City, Vietnam
    Introduction of Health and Agricultural Policy Research Institute (HAPRI) to the public at the University of Economics Ho Chi Minh City.
  • Seminar on Economic Research: "Does trade liberalization always have positive effects on household welfare in Vietnam?"
    Meeting room 10.01
    May 21, 2020, 11:00 AM – 12:00 PM GMT+7
    Meeting room 10.01, 279 Nguyễn Tri Phương, Ward 5, District 10, Hồ Chí Minh City, Vietnam
    Does trade liberalization always have positive effects on household welfare in Vietnam? Liệu tự do thương mại quốc tế luôn tốt đối với phúc lợi hộ gia đình ở Việt Nam?
  • Opening Ceremony
    Room 10.02, Floor 10
    Feb 10, 2020, 8:00 AM GMT+7 – Feb 17, 2020, 12:00 PM GMT+7
    Room 10.02, Floor 10, Campus B, University of Economics HCMC, 279 Nguyen Tri Phuong, Ward 5, Distric 10, Ho Chi Minh city, Vietnam
    HAPRI opening ceremony
  • Fulbright Scholarship Information Session
    Room A103
    Jan 10, 2020, 10:00 AM – 11:30 AM GMT+7
    Room A103, 59c Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, Hồ Chí Minh, Vietnam
    By US Embassy in Vietnam at the University of Economics HCMC
 
 
ueh-sub-logo.png

Follow us

  • Facebook Link
  • LinkedIn Round
  • Instagram
  • YouTube

©2020 by HAPRI

Viện Nghiên cứu Chính sách Sức khỏe và Nông nghiệp - Health & Agricultural Research Policy Institute,

Trường Đại học Kinh tế TPHCM - University of Economics Ho Chi Minh City